Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

Thursday, June 21, 2012

TÌM HIỂU VỀ HỆ MIỄN DỊCH: CÁCH THỨC NÓ HOẠT ĐỘNG (UNDERSTANDING THE IMMUNE SYSTEM: HOW IT WORKS) - Do LQT Biên Dịch



Hệ miễn dịch là một mạng lưới gồm các tế bào, các tổ chức mô, và các cơ quan...


Cách sử dụng phần mục lục: Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng anh, xin bấm vào dòng chữ tiếng Anh.  Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng Việt, xin bấm vào dòng chữ tiếng Việt.



I.             INTRODUCTION

II.           SELF AND NONSELF

III.          THE STRUCTURE OF THE IMMUNE SYSTEM


V.          MOUNTING AN IMMUNE RESPONSE

VI.         IMMUNITY: NATURAL AND ACQUIRED




X.          FRONTIERS IN IMMUNOLOGY

XI.         SUMMARY
TỔNG KẾT

XII.       SOURCES

TÌM HIỂU VỀ HỆ MIỄN DỊCH: CÁCH THỨC NÓ HOẠT ĐỘNG (UNDERSTANDING THE IMMUNE SYSTEM: HOW IT WORKS) - Do LQT Miễn Dịch


CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU TRONG MIỄN DỊCH HỌC

Các nhà khoa học hiện nay có thể sản xuất hàng loạt các hợp chất do tế bào miễn dịch tiết ra, cả kháng thể và lymphokine, cũng như các tế bào miễn dịch chuyên biệt.  Nguồn cung cấp sẵn các chất liệu này không chỉ cách mạng hóa chương trình nghiên cứu bản thân hệ miễn dịch mà còn có một sự ảnh hưởng sâu rộng lên y học, nông nghiệp, và công nghiệp.

Các kháng thể đơn bào (monoclonal antibody) là các kháng thể giống nhau, được sản sinh từ một đơn bào B.  Bởi vì khả năng chuyên biệt độc đáo của chúng đối với các phân tử khác nhau, do đó các kháng thể đơn bào là các phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho một loạt các chứng bệnh.  Các nhà nghiên cứu tạo ra các kháng thể đơn bào bằng cách tiêm vào chuột một kháng nguyên mục tiêu rồi sau đó hợp nhất các tế bào B từ chuột với một tế bào có tuổi thọ cao.  Tế bào lai này trở thành một loại nhà máy sản xuất kháng thể, sản sinh hàng loạt các bản sao giống hệt các phân tử kháng thể chuyên biệt dành cho kháng nguyên mục tiêu này.

Tuy nhiên, các kháng thể của chuột là “phần tử lạ” đối với con người, và có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch khi được tiêm vào cơ thể con người.  Do đó, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu các kháng thể đơn bào nhân tạo.  Để xây dựng các phân tử này, các nhà khoa học lấy một đoạn kháng thể của chuột được gắn kết với kháng nguyên và kết dính nó với một khung kháng thể của người, như vậy giảm bớt đáng kể “phần lạ” của phân tử này.

Antigen: Kháng nguyên
Antibody-producing plasma cell: Tương bào sản sinh kháng thể
Cells fuse into a hybridoma: Các tế bào hợp nhất thành một tế bào lai
Long-lived plasma cell: Tương bào có tuổi thọ cao
Monoclonal antibodies: Các kháng thể đơn bào

Công nghệ kháng thể đơn bào có thể tạo ra các kháng thể chuyên biệt cho việc đặt hàng.








Vì chúng gắn kết với các phân tử rất chuyên biệt, cho nên các kháng thể đơn bào sẽ được sử dụng trong các xét nghiệm chẩn đoán để xác định các tác nhân gây bệnh xâm nhập hoặc các thay đổi trong các protein của cơ thể.  Trong y học, các kháng thể đơn bào có thể kết dính với các tế bào ung thư, chặn các tín hiệu tăng trưởng hóa học mà các tín hiệu này làm cho các tế bào phân chia không thể kiểm soát được.  Trong các trường hợp khác, các kháng thể đơn bào có thể đưa các chất độc hại nguy hiểm vào các tế bào được chọn lựa, tiêu diệt tế bào này nhưng không đụng chạm đến các tế bào lân cận.

Công Nghệ Cải Biến Gen

Công nghệ cải biến gen (genetic engineering) cho phép các nhà khoa học lấy các gen (DNA) ra khỏi một sinh vật và kết hợp chúng với các gen của một sinh vật khác.  Bằng cách này, các sinh vật khá đơn giản như vi khuẩn hoặc nấm men có thể được sử dụng để sản sinh hàng loạt các protein của cơ thể người, bao gồm các hooc môn như insulin cũng như lymphokine và monokine.  Các nhà khoa học còn có thể sản xuất các protein từ các tác nhân gây nhiễm trùng, chẳng hạn như virut viêm gan hoặc virut HIV, để sử dụng trong vắcxin.

Trị Liệu Gen

Công nghệ cải biến gen cũng tạo ra các hứa hẹn cho phương pháp trị liệu gen, thay thế các gen đã bị biến đổi, mất đi, hoặc thêm vào các gen có lợi.  Bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (severe combined immunodeficiency disease – SCID) là một ứng viên chính cho phương pháp trị liệu gen.  Bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID) là một chứng bệnh di truyền hiếm, làm suy yếu hệ miễn dịch của một người, và làm cho người đó không có khả năng chống lại các bệnh nhiễm trùng.  Chứng bệnh này là do các đột biến ở một gen trong số các loại gen viết mã cho các thành phần quan trọng của hệ miễn dịch.  Cho đến gần đầy, phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID) là cấy các tế bào gốc hình thành tế bào máu từ tủy xương của một người có sức khỏe tốt, và người này có quan hệ gần với bệnh nhân.  Tuy nhiên, các bác sĩ cũng có thể điều trị chứng bệnh này bằng cách đưa vào cơ thể bệnh nhân phiên bản cải biến gen của gen đã thiếu hụt.

Sử dụng phương pháp trị liệu gen để điều trị bệnh SCID sẽ được thực hiện theo di truyền học bằng cách lấy mẫu các tế bào tạo máu từ tủy xương của một người, đưa và các gen này một loại virut được cải biến gen chứa loại gen được hiệu chỉnh, và nuôi các gen được bổ sung này bên ngoài cơ thể của bệnh nhân.  Sau khi các tế bào tủy xương được cải biến gen bắt đầu sản sinh men (enzyme) hoặc protein bị thiếu hụt, chúng có thể được đưa vào lại cơ thể của bệnh nhân.  Sau khi đã đi vào cơ thể, các tế bào cải biến gen này có thể sản sinh thành phần bị thiếu hụt của hệ miễn dịch và bắt đầu khôi phục lại khả năng chống nhiễm trùng của người đó.

Cytokine-producing cell: Tế bào sản sinh cytokine
Bacterium: Vi khuẩn
Strand of DNA from cytokine-producing cell: sợi DNA từ tế bào sản sinh cytokine
Plasmid (a ring of DNA) from bacterium: Vòng DNA từ vi khuẩn
Cytokine gene is cut out of DNA: Gen cytokine được cắt ra khỏi DNA
Plasmid is cut open: Vòng DNA (plasmit) bị cắt ra
Cytokine gene is spliced into plasmid: Gen cytokine được đưa vào vòng DNA
Hybrid plasmid is put back into bacterium: Plasmit lai được đưa trở vào vi khuẩn
Bacterium makes human cytokines: Vi khuẩn tạo cytokine của người

Công nghệ cải biến gen biến các sinh vật đơn giản thành các nhà máy sản xuất các protein của cơ thể người.





Bệnh ung thư là một mục tiêu khác của phương pháp trị liệu gen.  Trong các thực nghiệm tiên phong, các nhà khoa học lấy các tế bào bạch huyết chống ung thư ra khỏi khối u của bệnh nhân ung thư, và đưa vào một loại gen có tác dụng tăng cường khả năng của tế bào bạch huyết sản xuất một sản phẩm chống ung thư với số lượng lớn, sau đó phát triển các tế bào được tái cấu trúc này với số lượng lớn trong phòng thí nghiệm.  Sau đó, các tế bào này được tiêm trở vào cơ thể của bệnh nhân, ở đó chúng có thể tìm kiếm và chuyển tải liều lượng lớn các chất hóa học chống ung thư.

Kiểm Soát Hệ Miễn Dịch

Nghiên cứu về cơ chế giới hạn và cân bằng có tác dụng kiểm soát phản ứng miễn dịch là nguồn thông tin đang phát triển về các chức năng miễn dịch bình thường và không bình thường.  Rồi đây, nó có thể giúp điều trị các chứng bệnh như luput ban đỏ toàn thân bằng cách ức chế những thành phần quá hoạt tính của hệ miễn dịch.

Các nhà khoa học cũng đang tìm ra các phương pháp để hiểu rõ hơn về hệ thống miễn dịch của người và các chứng bệnh gây hại đến hệ miễn dịch.  Bằng cách cấy các mô miễn dịch chưa trưởng thành hoặc các tế bào miễn dịch của người vào chuột bị bệnh suy giảm miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID), các nhà khoa học đã tạo ra một mô hình sống hệ miễn dịch người.  Mô hình động vật này hứa hẹn có giá trị rất lớn trong việc giúp ích cho các nhà khoa học hiểu được hệ miễn dịch và vận dụng nó để tạo ra lợi ích cho sức khỏe con người.

Immature human immune cells: Các tế bào miễn dịch chưa trưởng thành của người
Immature human immune tissue: Mô miễn dịch chưa trưởng thành của người
Mouse kidneys: Thận của chuột
Immuno-incompetent SCID-hu mouse: Chuột có bệnh SCID người và mất khả năng miễn dịch.

Chuột có bệnh SCID tạo ra một phương tiện để nghiên cứu hoạt động của hệ miễn dịch người.



Saturday, June 16, 2012

BẰNG CÁCH NÀO THỂ DỤC CÓ THỂ LÀM CHO BỘ NÃO THÔNG MINH HƠN (HOW EXERCISE COULD LEAD TO A BETTER BRAIN) - Do LQT Biên Dịch



Những người 65 tuổi có được bộ não của tuổi 63 đơn giản bằng cách đi bộ,











BẰNG CÁCH NÀO THỂ DỤC CÓ THỂ LÀM CHO BỘ NÃO THÔNG MINH HƠN (HOW EXERCISE COULD LEAD TO A BETTER BRAIN) - Do LQT Biên Dịch


Tác giả: GRETCHEN REYNOLDS
Đăng ngày: 18 tháng 4, 2012

Giá trị của loại trò chơi rèn luyện trí lực có thể mang tính chất suy đoán, như Dan Hurley viết trong bài nói về sự truy tìm phương pháp làm cho chúng ta thông minh hơn, nhưng có một cách khác dễ thực hiện và được khoa học chứng minh có thể giúp bạn thông minh hơn.  Hãy đi bộ hoặc đi bơi.  Trong hơn một thập niên, các nhà khoa học thần kinh (neuroscientist) và các nhà sinh lý học (physiologist) đã và đang thu thập chứng cứ về mối quan hệ có lợi giữa thể dục và trí thông minh.  Nhưng các phát hiện mới nhất đã làm rõ rằng đây không chỉ là một mối quan hệ; mà chúng thực sự có sự liên hệ mật thiết.  Sử dụng các công nghệ tinh vi để kiểm tra hoạt động của các nơron của con người – và sự cấu thành bản thân các chất ở não – các nhà khoa học chỉ trong vài tháng qua đã khám phá ra rằng thể dục dường như có thể tạo nên một bộ não có khả năng kháng lại tình trạng co (teo) não và gia tăng tính linh hoạt nhận thức (cognitive flexibility).  Thể dục, như ngành khoa học thần kinh mới đây nhận định, giúp tăng cường khả năng tư duy nhiều hơn bản thân quá trình tư duy.


Chứng cứ có tính thuyết phục nhất bắt nguồn từ một số nghiên cứu mới về các động vật ở phòng thí nghiệm sống trong các lồng bận rộn và náo nhiệt.  Từ lâu, cái gọi là các môi trường “được tạo cho phong phú” – nơi cư trú của các động vật này chứa đầy các đồ chơi và tham gia vào các nhiệm vụ mới lạ - sẽ đưa đến những cải thiện về năng lực trí tuệ của các động vật ở phòng thí nghiệm.  Trong đa số các trường hợp, môi trường phong phú này cũng bao gồm một bánh xe quay, bởi vì các loại chuột nhắt (mouse) và chuột cống (rat) thường rất thích chạy bộ.  Cho đến gần đây, đã có một nghiên cứu nhỏ được thực hiện để cố gắng thu thập các tác dụng đặc biệt của quá trình chạy bộ so với việc chơi đùa với các đồ chơi mới hoặc tập trung tinh thần vào các hoạt động khác mà không làm tăng nhịp tim.

Do đó, năm ngoái một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Justin S. Rhodes, một giáo sư tâm lý học tại Viện Khoa Học Kỹ Thuật Cao Cấp Beckman của trường Đại Học Illinois (University of Illinois), tập hợp 4 nhóm chuộc nhắt và chia chúng thành bốn nhóm riêng biệt.  Một nhóm sống trong một thế giới đầy cảm giác và vị giác, ăn các loại quả hạch, trái cây (hoa quả) và phó mát, thực phẩm của nhóm này thỉnh thoảng được rắc thêm quế, và được uống các loại nước có nhiều mùi vị khác nhau.  “Giường” của chúng là các kiến trúc có hình mái vòm chiếm một góc của lồng thí nghiệm.  Các quả bóng có màu sáng chói, các đường hầm bằng chất dẻo, các khối vuông có thể gặm nhấm, các tấm gương và các ván bập bênh (seesaw) chiếm các khu vực khác của lồng thí nghiệm.  Nhóm 2 có đầy đủ tất cả các đồ chơi này, thêm vào đó chúng có các bánh xe quay nhỏ có hình đĩa ở trong lồng của chúng.  Các lồng thí nghiệm của nhóm thứ 3 không có các món đồ chơi này, mà chúng chỉ có thùng sắt bình thường không thú vị.  Và nhà của nhóm thứ 4 chỉ có các bánh xe quay nhưng lại không có các đồ chơi hoặc các món ăn ngon.

Tất cả các động vật này hoàn tất một loạt các kiểm tra về trí lực vào lúc bắt đầu cuộc nghiên cứu và được tiêm một hợp chất cho phép các nhà khoa học theo dõi các thay đổi trong các cấu trúc não của chúng.  Sau đó chúng chạy bộ, chơi, hoặc nếu môi trường được làm phong phú, sẽ chạy giỡn trong lồng trong vòng vài tháng.

Sau đó, nhóm nghiên cứu của Rhodes cho các chú chuột nhắt trải qua các xét nghiệm nhận thức và kiểm tra các mô não.  Kết quả là các món đồ chơi và các món ngon, cho dù có kích thích bao nhiêu, cũng không cải thiện được bộ não của các động vật này.

“Chỉ có một vấn đề quan trọng”, Rhodes nói “và đó là chúng có bánh xe quay hay không”.  Các động vật nếu tập thể dục, cho dù là chúng có những thứ xa xỉ khác trong lồng của chúng hay không, cũng sẽ có bộ não khỏe mạnh hơn và có biểu hiện tốt hơn trong các kiểm tra về trí lực so với các chú chuột khác.  Các con vật không chạy bộ, cho dù thế giới của chúng có nhiều thứ xa xỉ như thế nào, thì cũng không thể cải thiện được trí thông minh theo các cách thức phức tạp và kéo dài mà nhóm của Rhodes đang nghiên cứu.  Rhodes nói rằng, “chúng rất thích các đồ chơi” và các chú chuột hiếm khi đi vào các khu vực trống và yên tĩnh ở trong lồng.  Nhưng trừ khi chúng cũng tập thể dục, nếu không thì chúng sẽ không trở nên thông minh hơn.

Tại sao thể dục có thể xây dựng được năng lực trí tuệ bằng những phương pháp mà quá trình tư duy không thể.  Bộ não, giống như tất cả các cơ và các bộ phận khác, đều là một tổ chức mô, và chức năng của nó bị suy giảm do ít sử dụng và do tuổi tác.  Bắt đầu vào những năm cuối của tuổi 20, mỗi năm đa số chúng ta sẽ mất đi khoảng 1% thể tích của cấu trúc chân hải mã ở não (hippocampus), là một bộ phận quan trọng của não liên quan đến trí nhớ và một số chức năng học hỏi kiến thức.



Mặc dù thể dục xem ra làm chậm đi hoặc làm đảo ngược quá trình làm hao mòn não, nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến các tổ chức cơ.  Mặc dù cho đến gần đây các nhà khoa học cho rằng con người được sinh ra với một số lượng tế bào não nhất định và sẽ chẳng bao giờ sản sinh thêm, nhưng bây giờ họ đã hiểu rõ hơn.  Vào những năm 1990, sử dụng một công nghệ đánh dấu các tế bào mới sinh, các nhà nghiên cứu đã xác định, trong các quá trình mổ xẻ phân tích, rằng bộ não của người thành niên chứa một số lượng lớn các tế bào thần kinh mới sinh.  Các tế bào mới sinh này đặc biệt phổ biến trong cấu trúc chân hải mã ở não, cho thấy rằng quá trình hình thành các tế bào não mới chủ yếu xảy ra ở đó.  Càng khích lệ hơn là, các nhà khoa học tìm thấy rằng thể dục làm mồi khởi động quá trình hình thành các tế bào não.  Các chú chuột nhắt và chuột cống đã chạy bộ trong vài tuần thường có các tế bào thần kinh trong các cấu trúc chân hải mã nhiều gấp hai lần so với các chú chuột không vận động.  Bộ não của chúng, giống như các tổ chức cơ khác, trở nên gia tăng kích cỡ.

Nhưng chính hiệu ứng khó diễn tả mà thể dục tác động lên chức năng của các tế bào thần kinh mới hình thành thực sự là điểm đáng chú ý nhất.  Các tế bào não có thể cải thiện trí năng chỉ khi chúng nhập vào mạng lưới thần kinh đang tồn tại, và có nhiều tế bào không gia nhập vào, thay vào đó chúng di chuyển không định hướng vòng quanh trong não một thời gian ngắn rồi chết đi.

Tuy nhiên, một cách để kéo các tế bào thần kinh vào mạng lưới này là cần phải học hỏi một điều gì đó.  Trong một nghiên cứu năm 2007, các tế bào não mới ở chuột được nhập vào các mạng lưới thần kinh của các động vật này nếu các chú chuột học cách đi qua một mê lộ trong nước, một nhiệm vụ đòi hỏi vận dụng trí năng thay vì thể chất.  Nhưng các tế bào não này bị hạn chế rất nhiều về khả năng họa động của chúng.  Khi các nhà nghiên cứu điều tra hoạt động của não sau đó, họ đã tìm thấy rằng các tế bào mới được nối mạng chỉ hoạt động khi các chú chuột này lại tìm đường đi qua mê lộ lần nữa, nhưng không phát sáng khi chúng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức khác.  Kỹ năng học hỏi được mã hóa trong các tế bào đó đã không truyền sang các dạng trí năng khác của loài gặm nhấm.



Mặt khác, thể dục xem ra làm cho các tế bào thần kinh trở nên nhạy bén.  Khi các nhà khoa học trong một nghiên cứu khác cho các chú chuột nhắt chạy bộ, thì bộ não của các động vật này sẵn sàng kết nối các tế bào thần kinh mới vào mạng lưới thần kinh.  Nhưng các tế bào thần kinh này không chỉ phát hỏa (hoạt động) trong lúc chạy bộ sau đó, mà chúng còn phát sáng khi các con vật này thực hiện các kỹ năng nhận thức, giống như thăm dò các môi trường xa lạ.  Đối với các chú chuột nhắt, chạy bộ, khác với kỹ năng học hỏi, đã tạo ra các tế bào não mà chúng có thể làm nhiều việc cùng một lúc.

Làm thế nào thể dục tái cấu trúc trí năng ở cấp phân tử hiện tại vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng thể dục thúc đẩy những sự gia tăng cái gọi là yếu tố ảnh hưởng tế bào thần kinh bắt nguồn từ não (brain-derived neurotropic factor – B.D.N.F.), một chất làm tăng cường các tế bào và các sợi trục thần kinh (axon), củng cố các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh và khởi động quá trình hình thành các tế bào não.  Các nhà khoa học không thể trực tiếp nghiên cứu các hiệu ứng tương tự trong bộ não con người, nhưng họ đã tìm thấy rằng sau khi tập thể dục, đa số người đều hiển thị mức B.D.N.F trong máu của họ cao hơn.

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng hàm lượng cao yếu tố B.D.N.F. giúp giải thích tất cả những thay đổi trong não liên quan đến thể dục.  Toàn bộ quá trình hầu như hoàn toàn liên quan đến các quá trình di truyền và hóa sinh phức tạp nối tiếp.  Ví dụ, một nghiên cứu mới đây về não của các chú chuột cao tuổi, đã tìm thấy 117 gen được thể hiện các kiểu hình khác nhau trong não động vật sau khi chúng bắt đầu một chương trình chạy bộ, so sánh với các chú chuột không vận động, và các nhà khoa học chỉ xem xét một phần nhỏ các gen mà chúng có thể được thể hiện các kiểu hình khác nhau trong não do tập thể dục.

Loại hình thể dục nào sẽ sản sinh ra các hiệu ứng mong muốn này là một vấn đề khác chưa có câu trả lời và gây tò mò.  “Người ta vẫn chưa rõ là các loại hình vận động có cần phải là các môn thể dục tạo sức bền hay không,” dẫn lời nhà tâm lý học và khoa học thần kinh Arthur F. Kramer, giám đốc Viện Beckman tại Trường Đại Học Illinois và là một chuyên gia hàng đầu về thể dục và não.  Một số ít các nghiên cứu trong vài năm gần đây đã tìm thấy các lợi ích về trí năng ở những người cao tuổi tập nâng tạ trong một năm và ngoài ra không tập thể dục.  Nhưng đa số các nghiên cứu cho đến nay, và tất cả các thử nghiệm ở động vật, chỉ điều tra về vấn đề chạy bộ hoặc các hoạt động ưa khí khác.

Cho dù là loại hình hoạt động gì, nhưng một thông điệp nổi bật từ nghiên cứu khoa học gần đây là thể dục không nhất thiết phải tập đến kiệt sức để có được hiệu quả cho bộ não.  Khi một nhóm 120 người cao tuổi cả nam và nữ được tham gia vào các chương trình đi bộ và tập kéo giãn cơ (stretching) cho một nghiên cứu quan trọng năm 2011, thì những người đi bộ kết thúc chương trình vận động sau một năm, với kết quả là cấu trúc chân hải mã ở não của họ trở nên gia tăng kích cỡ.  Trong khi đó, những người tập kéo giãn cơ (stretcher) có thể tích cấu trúc này vẫn bị giảm như bình thường.  Những người đi bộ cũng cho thấy hàm lượng yếu tố B.D.N.F. trong máu của họ cao hơn so với nhóm tập kéo giãn cơ và biểu hiện trong các kiểm tra về trí năng tốt hơn.

Trên thực tế, các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận rằng, những người đi bộ tăng tuổi thọ 2 năm hoặc tăng tuổi xuân cho cấu trúc chân hải mã.  Những người 65 tuổi có được bộ não của tuổi 63 đơn giản bằng cách đi bộ, đây là một tin mang tính cổ vũ cho những ai đang lo lắng phải đối diện với một tương lai sau này có một cuộc sống càng mất dần trí lực.


Nguồn (Source):








Friday, June 8, 2012

NHIỄM TRÙNG TAI - CẤP TÍNH (EAR INFECTION - ACUTE) - Do LQT Biên Dịch



Nhiễm trùng tai là một trong những lý do phổ biến nhất mà các bậc phụ huynh đưa các trẻ đến khám bác sĩ.


Cách sử dụng phần mục lục: Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng anh, xin bấm vào dòng chữ tiếng Anh.  Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng Việt, xin bấm vào dòng chữ tiếng Việt.


Lưu ý: Các kiến thức y học dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo, không nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, chẩn đoán, hoặc điều trị cho các trường hợp bệnh.  Các trường hợp bệnh nên được chẩn đoán và điều trị bởi bác sĩ y khoa có giấy phép hành nghề.  Hãy gọi cho số điện thoại khẩn cấp ở địa phương (chẳng hạn như 911) cho tất cả các trường hợp cấp cứu y tế.



I.             BACKGROUND

II.           CAUSES

III.          RISK FACTORS

IV.         SYMPTOMS

V.          PROGNOSIS

VI.         DIAGNOSIS

VII.       PREVENTION

VIII.     TREATMENT

IX.         HOME REMEDIES

X.          MEDICATIONS

XI.         SURGERY

XII.       REFERENCES

XIII.     SOURCES