Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

Wednesday, February 24, 2016

CÁC HƯỚNG DẪN HỮU ÍCH CHO CHA MẸ (POSITIVE PARENTING TIPS) - Do LQT Biên Dịch


TRẺ SƠ SINH (0 – 1 tuổi)

Các Dấu Mốc Phát Triển

Các kỹ năng, chẳng hạn như bước đi đầu tiên, mỉm cười lần đầu tiên, và cái vẫy chào “tạm biệt”, được gọi là những dấu mốc phát triển.  Các dấu mốc phát triển là những kỹ năng mà đa số trẻ có thể làm ở một độ tuổi nào đó.  Trẻ em đạt đến những dấu mốc trong cách chơi đùa, học, nói, cư xử, và di chuyển (chẳng hạn như bò, đi, hoặc nhảy).


Trong năm đầu tiên, các trẻ sơ sinh sẽ học cách tập trung thị giác, sờ nắm, khám phá, và tìm hiểu mọi thứ xung quanh chúng.  Sự phát triển về nhận thức hoặc não bộ ám chỉ đến quá trình học hỏi của bộ nhớ, học ngôn ngữ, suy nghĩ, và lý luận.  Học ngôn ngữ không chỉ đơn giản là tạo ra các âm thanh (“babble”) hoặc nói “ma-ma” và “ba-ba”.  Lắng nghe, hiểu, và biết tên của người và vật là một phần của quá trình phát triển về ngôn ngữ.  Trong suốt giai đoạn này, các trẻ cũng phát triển những mối dây yêu thương và sự tin tưởng đối với cha mẹ của chúng và những người khác như một phần của sự phát triển về mặt cảm xúc và xã hội.  Cách thức cha mẹ ôm ấp, âu yếm, và chơi giỡn với con cái của họ sẽ tạo nên nền tảng cho sự tương tác của các trẻ với họ và những người khác.

Các Hướng Dẫn Hữu Ích

Sau đây là những điều mà bạn, với vai trò của người làm cha mẹ, có thể thực hiện để giúp cho con trẻ của bạn trong thời kỳ này:

-      Nói chuyện với con trẻ của bạn.  Cháu sẽ cảm thấy giọng nói của bạn rất êm tai.
-      Hãy trả lời khi con trẻ của bạn tạo ra các âm thanh bằng cách lặp lại các âm thanh này và nói mấy câu.  Điều này sẽ giúp con trẻ của bạn học cách sử dụng ngôn ngữ.
-      Đọc sách cho con trẻ của bạn nghe.  Điều này sẽ giúp cháu phát triển và hiểu được ngôn ngữ cũng như các âm thanh.
-      Hát và chơi nhạc cho con trẻ của bạn nghe.  Điều này sẽ giúp cháu bé phát sinh tình yêu với âm nhạc và sẽ giúp não của cháu phát triển.
-      Thỉnh thoảng hãy khen con trẻ của bạn và luôn quan tâm đến cháu bằng sự yêu thương.
-      Dành ra thời gian ôm ấp và âu yếm con trẻ của bạn.  Điều này sẽ giúp cháu cảm thấy được quan tâm và cảm thấy được an toàn.
-      Chơi với con trẻ của bạn khi cháu thức giấc và đang thư giãn.  Quan sát con trẻ của bạn một cách kỹ lưỡng để phát hiện các dấu hiệu cháu bị mệt hoặc bắt đầu cảm thấy khó chịu trong người để cháu có thể ngừng chơi giỡn với bạn
-      Phân tán sự tập trung của con trẻ bằng các món đồ chơi và đưa cháu về những khu vực an toàn khi cháu bắt đầu biết di chuyển và chạm vào các vật mà cháu không nên chạm vào.
-      Hãy chú ý đến sức khỏe thể chất, tâm lý, và cảm xúc của bạn.  Làm cha mẹ có thể là một công việc rất vất vả!  Khi bạn cảm thấy sức khỏe và tinh thần ở trạng thái tốt nhất thì bạn sẽ là một người cha/mẹ hạnh phúc, và yêu thương con trẻ của bạn.

Ưu Tiên Vấn Đề An Toàn Cho Trẻ Em

Khi một đứa trẻ trở thành một thành viên của gia đình, thì đây là lúc bạn phải làm cho ngôi nhà của bạn trở thành một nơi an toàn.  Hãy tìm xung quanh xem có vật gì có thể gây nguy hiểm cho con trẻ của bạn không.  Làm cha mẹ, thì trách nhiệm của bạn là phải tạo nên một căn nhà an toàn cho con trẻ của mình.  Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng là bạn phải tiến hành những bước cần thiết để đảm bảo rằng bạn đã có sự chuẩn bị về mặt tinh thần và tình cảm cho đứa con mới sinh của mình.  Sau đây là một số hướng dẫn để giữ an toàn cho con trẻ của bạn:

-      Đừng bao giờ lắc trẻ sơ sinh! Các trẻ sơ sinh có các cơ ở cổ rất yếu, các nhóm cơ này chưa thể chống đỡ cho cổ của cháu.  Nếu bạn lắc cháu bé, bạn có thể làm tổn thương não của cháu hoặc thậm chí làm cho cháu bị tử vong.
-      Phải nhớ luôn luôn đặt trẻ sơ sinh ngủ ở tư thế mặt hướng lên (nằm ngửa) để tránh bị hội chứng trẻ sơ sinh tử vong đột ngột (sudden infant death syndrome – SIDS).
-      Bảo vệ con trẻ và gia đình bạn để không bị hít phải khói thuốc lá.  Không cho phép bất kỳ ai hút thuốc lá trong nhà của bạn.
-      Đặt con trẻ của bạn ngồi hướng mặt về phía sau ở hàng ghế sau khi chở cháu trên xe hơi.  Đây là đề xuất của Ủy Ban An Toàn Đường Cao Tốc Quốc Gia Hoa Kỳ (National Highway Traffic Safety Administration).
-      Tránh để con trẻ của bạn bị nghẹt thở bằng cách cắt (nghiền) nhỏ thức ăn của cháu bé.  Ngoài ra, đừng để cháu chơi với những loại đồ chơi nhỏ và những vật khác mà cháu có thể dễ dàng nuốt vào.
-      Đừng cho phép con trẻ của bạn chơi với bất kỳ thứ gì có thể bao (che) kín mặt của cháu bé.
-      Đừng bao giờ cầm nước hoặc thực phẩm nóng gần với con trẻ trong khi bạn đang bế (bồng) cháu.
-      Tiêm chủng là yếu tố quan trọng để bảo vệ sức khỏe và sự an toàn cho con trẻ.  Bởi vì các trẻ có thể mắc phải các chứng bệnh nghiêm trọng, cho nên điều quan trọng là con trẻ của bạn phải được tiêm chủng đúng loại vắcxin và đúng thời điểm.  Hãy nói chuyện với bác sĩ của cháu bé để đảm bảo rằng con trẻ của bạn được cập nhật các chương trình tiêm chủng.

Cơ Thể Khỏe Mạnh

-      Sữa mẹ đáp ứng tất cả những nhu cầu của trẻ sơ sinh trong khoảng 6 tháng đầu sau khi sinh.  Từ 6 đến 12 tháng tuổi, con trẻ của bạn sẽ nhận biết các mùi vị và kết cấu mới của các thực phẩm cứng lành mạnh, nhưng sữa mẹ vẫn là một nguồn dinh dưỡng quan trọng.
-      Cho con trẻ của bạn ăn từ từ và một cách kiên nhẫn, khuyến khích con trẻ của bạn thử những vị mới nhưng đừng ép cháu, và quan sát một cách kỹ lưỡng để xem cháu còn đói không.
-      Bú sữa mẹ là một cách nuôi trẻ tự nhiên, nhưng phương pháp này có thể gặp khó khăn.  Nếu bạn cần sự giúp đỡ, bạn có thể gọi cho đường dây National Breastfeeding Helpline tại số 1-800-994-9662 hoặc tìm kiếm sự trợ giúp trên mạng tại http://www.womenshealth.gov/breastfeeding .  Bạn cũng có thể gọi cho chương trình WIC tại địa phương để xem bạn có hội đủ tiêu chuẩn để được trợ giúp cho trẻ bú sữa mẹ bởi các chuyên gia sức khỏe không.  Hoặc vào trang http://gotwww.net/ilca để tìm kiếm một chuyên gia tư vấn cho trẻ bú sữa mẹ có giấy phép hành nghề ở cộng đồng của bạn.
-      Giúp cho trẻ luôn hoạt động.  Cháu bé có thể không có khả năng chạy hoặc chơi giỡn như những cháu lớn hơn, nhưng có nhiều thứ cháu có thể làm để vận động tay chân suốt ngày.  Chơi giỡn ở sàn nhà giúp con trẻ của bạn trở nên khỏe mạnh, học hỏi, và khám phá.
-      Cố gắng đừng để con trẻ của bạn ngồi trên xích đu(swing), xe đẩy(stroller), ghế nảy (bouncer seat), và xe tập đứng (baby saucer) quá lâu.
-      Hạn chế tối thiểu thời gian xem truyền hình.  Đối với các trẻ dưới 2 tuổi, Hiệp Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP) đề xuất rằng tốt nhất là không để các cháu xem bất cứ màn hình gì.

Lịch Tiêm Chủng (Dành Cho Các Chuyên Gia Y Tế)

Vắcxin
Lúc mới sinh
1 tháng
2 tháng
4 tháng
6 tháng
9 mos
12 tháng
15 tháng
Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Tiêm chủng bổ sung
Liều thứ 3


Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Xem chú thích 2





Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Liều thứ 3
Tiêm chủng bổ sung
Liều thứ 4










Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Xem chú thích 5
Tiêm chủng bổ sung
Liều 3 và 4, xem chú thích 5


Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Liều thứ 3
Tiêm chủng bổ sung
Liều thứ 4










Liều thứ nhất
Liều thứ 2
Liều thứ 3




Tiêm chủng hằng năm (chỉ có IIV) 1 hoặc 2 liều





Xem chú thích 9
Liều thứ nhất






Liều thứ nhất






2 liều, xem chú thích 11










Xem chú thích 13


CHÚ THÍCH: 2, 5, 8, 9, 11, 13

2. Các vắcxin Rotavirus.  (Tuổi tối thiểu: 6 tuần cho cả RV1 [Rotarix] và RV5 [RotaTeq])

Tiêm chủng định kỳ:

Tiêm các đợt vắcxin RV cho tất cả các trẻ sơ sinh như sau:

1.   Nếu Rotarix được sử dụng, tiêm 2 liều lúc trẻ được 2 và 4 tháng tuổi.
2.   Nếu RotaTeq được sử dụng, tiêm 3 liều lúc trẻ được 2, 4, và 6 tháng.
3.   Nếu bất kỳ liều nào trong các đợt tiêm chủng là RotaTeq hoặc sản phẩm vắcxin không rõ ràng ở bất kỳ liều nào trong các đợt tiêm chủng, thì trẻ cần được tiêm tổng cộng 3 liều RV.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Tuổi tối đa cho liều đầu tiên trong các đợt tiêm này là 14 tuần 6 ngày; việc tiêm chủng không được tiến hành cho các trẻ sơ sinh được 15 tuần 0 ngày hoặc lớn hơn.
-      Tuổi tối đa cho liều cuối cùng trong các đợt tiêm chủng này là 8 tháng 0 ngày.

5. Vắcxin tiếp hợp phòng chống Haemophilus influenzae loại b (Hib conjugate vaccine).  (Tuổi tối thiểu: 6 tuần cho PRP-T [ACTHIB, DTaP-IPV/Hib (Pentacel) và Hib-MenCY (MenHibrix)], PRP-OMP [PedvaxHIB hoặc COMVAX], 12 tháng cho PRP-T [Hiberix])


Tiêm chủng định kỳ:

-      Tiêm các đợt chính vắcxin Hib 2 hoặc 3 liều và một liều tăng cường (liều thứ 3 hoặc 4 tùy theo vắcxin được sử dụng trong các đợt tiêm chính) ở độ tuổi từ 12 đến 15 tháng tuổi để hoàn tất các đợt tiêm vắcxin Hib đầy đủ.
-      Các đợt tiêm chủng chính với vắcxin ActHIB, MenHibrix, hoặc Pentacel bao gồm 3 liều và phải được tiêm chủng cho các trẻ được 2, 4, và 6 tháng tuổi.  Các đợt tiêm chính với vắcxin PedvaxHib hoặc COMVAX bao gồm 2 liều và phải được tiêm chủng cho các trẻ được 2 và 4 tháng tuổi; một liều ở 6 tháng tuổi không được chỉ định.
-      Một liều tăng cường (booster dose: liều thứ 3 hoặc thứ 4 tùy thuộc vào loại vắcxin được sử dụng trong các đợt tiêm chính) của bất kỳ loại vắcxin Hib nào phải được tiêm chủng cho các trẻ từ 12 – 15 tháng tuổi.  Một ngoại lệ là vắcxin Hiberix.  Hiberix chỉ được sử dụng cho liều tăng cường (liều cuối cùng) ở trẻ em từ 12 tháng đến 4 tuổi mà những trẻ này đã tiếp nhận ít nhất 1 liều vắcxin chứa Hib.
-      Đối với những đề xuất về việc sử dụng MenHibrix ở các bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh viêm màng não khuẩn cầu (meningococcal disease), hãy tham khảo các chú thích về vắcxin khuẩn cầu.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Nếu liều thứ nhất được tiêm ở độ tuổi từ 12 đến 14 tháng tuổi, thì hãy tiêm liều thứ hai (liều cuối) ở tuần thứ 8 sau khi tiêm liều thứ nhất, bất kể là loại vắcxin Hib nào được sử dụng trong các đợt tiêm chính.
-      Nếu cả hai liều là vắcxin PRP-OMP (PedvaxHIB hoặc COMVAX), và đã được tiêm trước ngày sinh nhật 1 tuổi, thì liều thứ 3 (và cuối cùng) phải được tiêm vào thời điểm từ 12 đến 59 tháng tuổi và ít nhất là 8 tuần sau khi tiêm liều thứ hai.
-      Nếu liều đầu tiên được tiêm vào thời điểm từ 7 đến 11 tháng tuổi, hãy tiêm liều thứ hai ít nhất 4 tuần sau đó, và liều thứ 3 (và liều cuối cùng) vào thời điểm từ 12 đến 15 tháng tuổi hoặc 8 tuần sau khi tiêm liều thứ 2.
-      Nếu liều đầu tiên được tiêm trước ngày sinh nhật đầu tiên và liều thứ hai được tiêm vào thời điểm chưa đến 15 tháng, thì liều thứ 3 (liều cuối cùng) phải được tiêm vào 8 tuần sau đó.
-      Đối với những trẻ em chưa được tiêm chủng ở độ tuổi từ 15 tháng trở lên, thì chỉ tiêm 1 liều duy nhất.

Tiêm chủng cho những người với các tình trạng bệnh có nguy cơ cao:

-      Trẻ em tuổi từ 12 đến 59 tháng có nguy cơ cao mắc bệnh Hib (Haemophilus influenzae type b disease), bao gồm những trẻ tiếp nhận hóa trị và những trẻ thiếu lá lách và thiếu chức năng của lá lách (anatomic or functional asplenia) (bao gồm bệnh tế bào hình liềm), nhiễm HIV, thiếu hụt immunoglobulin, hoặc thiếu hụt thành phần protein hệ thống bổ sung bẩm sinh(early component complement deficiency), những trẻ này chưa tiếp nhận hoặc chỉ mới tiếp nhận một liều vắcxin Hib trước 12 tháng tuổi, nên tiếp nhận thêm 2 liều vắcxin Hib, mỗi liều cách nhau 8 tuần; những trẻ em đã tiếp nhận từ 2 liều vắcxin Hib trở lên trước 12 tháng tuổi, nên tiếp nhận thêm 1 liều nữa.
-      Đối với những bệnh nhân chưa đến 5 tuổi đang tiến hành hóa trị hoặc xạ trị và đã tiếp nhận một liều vắcxin Hib trong vòng 14 ngày sau khi bắt đầu trị liệu hoặc trong thời gian trị liệu, thì hãy lặp lại liều này ít nhất là 3 tháng sau khi hoàn tất trị liệu.
-      Những người tiếp nhận cấy ghép tế bào gốc sinh huyết(hematopoietic stem cell transplant - HSCT) phải được tái tiêm chủng với một chế độ 3 liều vắcxin Hib bắt đầu từ 6 đến 12 tháng sau khi cấy ghép thành công, bất kể kỷ lục tiêm chủng; các liều phải được tiêm cách nhau ít nhất là 4 tuần.
-      Một liều đơn vắcxin chứa Hib phải được tiêm cho những trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên (15 tháng tuổi trở lên) chưa được chủng ngừa và sẽ tiến hành thủ thuật cắt bỏ lá lách theo chọn lựa (elective splenectomy); nếu có thể, vắcxin phải được tiêm ít nhất 14 ngày trước khi tiến hành thủ thuật.
-      Vắcxin Hib không được đề xuất tiến hành định kỳ cho các bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên.  Tuy nhiên, 1 liều vắc xin Hib phải được tiêm cho những cá nhân chưa được chủng ngừa*từ 5 tuổi trở lên thiếu lá lách hoặc thiếu chức năng của lá lách (bao gồm bệnh tế bào hình liềm) và những người chưa được tiêm chủng từ 5 đến 18 tuổi đã bị nhiễm HIV.

*Những bệnh nhân vẫn chưa tiếp nhận các đợt tiêm chính và liều tăng cường hoặc ít nhất 1 liều vắcxin Hib sau 14 tháng tuổi được xem là chưa được chủng ngừa.

8. Vắcxin bệnh sởi, bệnh quai bị, bệnh sởi Đức (Measles, mumps, and rubella [MMR] vaccine).  (Tuổi tối thiểu: 12 tháng cho việc tiêm chủng định kỳ).

Tiêm chủng định kỳ:

-      Tiêm các đợt 2 liều vắcxin MMR vào thời điểm từ 12 – 15 tháng và 4 – 6 tuổi.  Liều thứ 2 có thể được tiêm trước 4 tuổi, với điều kiện là ít nhất 4 tuần sau khi tiêm liều thứ nhất.
-      Tiêm một liều vắcxin MMR cho các trẻ sơ sinh từ 6 đến 11 tháng tuổi trước khi rời Hoa Kỳ để đi du lịch nước ngoài.  Những trẻ này phải được tái tiêm chủng với 2 liều vắc xin MMR, liều thứ nhất vào thời điểm 12 đến 15 tháng tuổi (12 tháng tuổi nếu đứa trẻ này đang ở trong khu vực có nguy cơ bệnh cao), và liều thứ hai ít nhất 4 tuần sau đó.
-      Tiêm 2 liều vắcxin MMR cho những trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên trước khi rời Hoa Kỳ để đi du lịch nước ngoài.  Liều thứ nhất phải được tiêm khi trẻ được 12 tháng tuổi hoặc sau 12 tháng tuổi và liều thứ 2 ít nhất 4 tuần sau đó.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Đảm bảo rằng tất cả các trẻ em ở tuổi đi học và trẻ vị thành niên phải được tiêm 2 liều vắcxin MMR; khoảng cách tối thiểu giữa 2 liều này là 4 tuần.

9. Vắcxin thủy đậu (VAR).  (Tuổi tối thiểu: 12 tháng)

Tiêm chủng định kỳ:

-      Tiêm 2 liều vắcxin thủy đậu vào thời điểm từ 12 – 15 tháng tuổi và 4 – 6 tuổi.  Liều thứ 2 có thể được tiêm trước 4 tuổi, miễn là 2 liều cách nhau ít nhất 3 tháng.  Nếu liều thứ 2 được tiêm cách liều thứ nhất ít nhất là 4 tuần, thì nó có thể được xem là có hiệu quả.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Đảm bảo rằng tất cả những trẻ tuổi từ 7 – 18 và không có chứng cứ miễn dịch phải được tiêm 2 liều vắcxin thủy đậu.  Đối với các trẻ từ 7 – 12 tuổi, khoảng cách tối thiểu giữa các liều được đề xuất là 3 tháng (nếu 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần, thì nó được xem là có hiệu quả); đối với các cá nhân từ 13 tuổi trở lên, thì khoảng cách tối thiểu giữa các liều là 4 tuần.

11. Vắcxin viêm gan A.  (Tuổi tối thiểu: 12 tháng)

Tiêm chủng định kỳ:

-      Bắt đầu đợt tiêm 2 liều vắcxin viêm gan A vào thời điểm 12 đến 23 tháng tuổi; khoảng cách giữa 2 liều này là 6 – 18 tháng.
-      Các trẻ đã tiếp nhập 1 liều vắcxin viêm gan A trước 24 tháng tuổi phải tiếp nhận liều thứ hai từ 6 đến 18 tháng sau khi tiêm liều thứ nhất.
-      Đối với các cá nhân từ 2 tuổi trở lên mà vẫn chưa tiếp nhận các đợt tiêm chủng vắcxin viêm gan A, thì 2 liều vắcxin viêm gan A cách nhau 6 – 18 tháng có thể được tiêm nếu mong muốn được miễn nhiễm virut viêm gan A.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Khoảng cách tối thiểu giữa hai liều tiêm là 6 tháng.

Các cộng đồng đặc biệt:

-      Tiêm 2 liều vắcxin viêm gan A cách nhau ít nhất 6 tháng cho các cá nhân trước đây chưa được tiêm chủng và sống ở những khu vực mà các chương trình tiêm chủng dành cho các trẻ lớn hơn, hoặc những cá nhân có nguy cơ cao bị nhiễm trùng.  Ở đây bao gồm những người đi đến hoặc làm việc ở những quốc gia mức độ nhiễm trùng cao hoặc trung bình mang tính địa phương; đàn ông quan hệ tình dục với đàn ông; những người sử dụng kim tiêm và các loại thuốc không tiêm bị cấm; những người làm việc với các động vật linh trưởng (primates) bị nhiễm virut viêm gan A (HAV) hoặc làm việc với virut viêm gan A trong phòng thí nghiệm; những người bị các rối loạn yếu tố đông máu(clotting-factor disorder); những người bị bệnh gan mãn tính; và những người tiếp xúc gần (ví dụ: những người trong gia đình hoặc giữ trẻ hộ) với trẻ được nhận nuôi ở nước ngoài trong 60 ngày đầu tiên sau khi đến Hoa Kỳ từ một quốc gia có mức độ nhiễm trùng cao hoặc trung bình.  Liều đầu tiên phải được tiêm ngay sau khi lên kế hoạch nhận con nuôi, một cách lý tưởng là 2 hoặc vài tuần trước khi trẻ được nhận nuôi đến Hoa Kỳ.

13. Vắcxin tiếp hợp khuẩn cầu viêm màng não.  (Tuổi tối thiểu: 6 tuần cho Hib-MenCY [MenHibrix], 9 tháng cho MenACWY-D [Menactra], 2 tháng cho MenACWY-CRM [Menveo])

Tiêm chủng định kỳ:

-      Tiêm một liều đơn vắcxin Menactra hoặc Menveo vào lúc trẻ được 11 đến 12 tuổi, với liều tăng cường vào lúc trẻ được 16 tuổi.
-      Các trẻ vị thành niên từ 11 – 18 tuổi bị nhiễm HIV phải được tiếp nhận 2 liều chính vắcxin Menactra hoặc Menveo, với các liều cách nhau ít nhất 8 tuần.
-      Đối với các trẻ từ 2 tháng đến 18 tuổi với các tình trạng bệnh lý có nguy cơ cao.  Xem phần tiêm chủng cho những người có các tình trạng bệnh có nguy cơ cao bên dưới.

Tiêm chủng bổ sung:

-      Tiêm vắcxin Menactra hoặc Menveo cho các trẻ từ 13 – 18 tuổi nếu trước đó chưa được tiêm chủng.
-      Nếu liều đầu tiên được tiêm ở tuổi 13 – 15, một liều tăng cường phải được tiêm ở tuổi 16 – 18, đồng thời các liều cách nhau ít nhất là 8 tuần
-      Nếu liều thứ nhất được tiêm ở tuổi 16 hoặc lớn hơn, thì không cần đến liều tăng cường.

Tiêm chủng cho những người với các tình trạng bệnh có nguy cơ cao và những người có nhiều nguy cơ mắc bệnh:

Các trẻ thiếu lá lách hoặc mất chức năng của lá lách (bao gồm bệnh tế bào hình liềm):

Menveo

-      Các trẻ bắt đầu tiêm chủng khi được 8 tuần đến 6 tháng: Tiêm các liều khi trẻ được 2, 4, 6, và 12 tháng tuổi.
-      Các trẻ chưa được tiêm chủng từ 7 – 23 tháng : Tiêm 2 liều, với liều thứ 2 cách liều thứ nhất ít nhất 12 tuần và sau ngày sinh nhật đầu tiên.
-      Các trẻ 24 tháng và lớn hơn vẫn chưa tiếp nhận một đợt tiêm chủng hoàn chỉnh: Tiêm 2 liều chính cách nhau ít nhất 8 tuần.

MenHibrix

-      Trẻ em từ 6 tuần đến 18 tháng: Tiêm các liều khi các trẻ được 2, 4, 6, và 12 đến 15 tháng tuổi.
-      Nếu liều vắcxin MenHibrix đầu tiên được tiêm khi trẻ được 12 tháng tuổi hoặc sau 12 tháng tuổi, thì tổng cộng 2 liều phải được tiêm cách nhau ít nhất 8 tuần để bảo vệ chống lại bệnh khuẩn cầu màng não nhóm huyết thanh C và Y (serogroups C and Y meningococcal disease)

Menactra

-      Các trẻ 24 tháng và lớn hơn vẫn chưa tiếp nhận một đợt tiêm chủng hoàn chỉnh: Tiêm 2 liều chính cách nhau ít nhất 8 tuần.  Nếu vắcxin Menactra được tiêm cho một đứa trẻ bị thiếu lá lách (bao gồm bệnh tế bào hình liềm), thì đừng tiêm vắcxin Menactra cho đến khi trẻ được 2 tuổi và ít nhất 4 tuần sau khi hoàn tất tất cả các liều PCV13.

Các trẻ với hội chứng thiếu hụt thành phần hệ thống bổ sung (complement component deficiency) mãn tính:

Menveo

-      Các trẻ bắt đầu tiêm chủng khi được 8 tuần đến 6 tháng: Tiêm các liều khi các trẻ được 2, 4, 6 và 12 tháng tuổi.
-      Các trẻ từ 7 đến 23 tháng chưa được tiêm chủng: Tiêm 2 liều, mỗi liều cách nhau ít nhất 12 tuần và sau ngày sinh nhật đầu tiên.
-      Các trẻ từ 24 tháng trở lên và chưa tiếp nhận một đợt tiêm chủng hoàn chỉnh: Tiêm 2 liều chính, mỗi liều cách nhau ít nhất 8 tuần.

MenHibrix

-      Các trẻ từ 6 tuần đến 18 tháng: Tiêm các liều khi các trẻ được 2, 4, 6, và 12 đến 15 tháng tuổi.
-      Nếu liều vắcxin MenHibrix đầu tiên được tiêm khi các trẻ được 12 tháng tuổi hoặc sau 12 tháng tuổi, thì phải tiêm tổng cộng 2 liều, mỗi liều cách nhau ít nhất 8 tuần để chống lại bệnh khuẩn cầu não nhóm huyết thanh C và Y.

Menactra

-      Các trẻ từ 9 đến 23 tháng: Tiêm 2 liều chính, mỗi liều cách nhau ít nhất 12 tuần.
-      Các trẻ từ 24 tháng trở lên và chưa tiếp nhận một đợt tiêm chủng hoàn chỉnh: Tiêm 2 liều chính, mỗi liều cách nhau ít nhất 8 tuần.

Đối với các trẻ đi du lịch hoặc sống ở các quốc gia ở đó bệnh khuẩn cầu não có tỷ lệ mắc bệnh cao hoặc có dịch, bao gồm các quốc gia ở vành đai viêm màng não Châu Phi (African meningitis belt), hãy sử dụng công thức phù hợp với độ tuổi và các liều Menactra or Menveo để bảo vệ chống lại bệnh khuẩn cầu não nhóm huyết thanh A và W.  Vắcxin MenHibrix được tiếp nhận trước đó vẫn chưa đủ cho các trẻ đi du lịch đến vành đai viêm màng não Châu Phi bởi vì nó không chứa nhóm huyết thanh A hoặc W.

Đối với các trẻ có nguy cơ trong một đợt bùng phát ở cộng đồng do một nhóm huyết thanh của vắcxin, hãy tiêm hoặc hoàn tất các liều phù hợp gồm MenHibrix, Menactra, hoặc Menveo.

Đối với các liều tăng cường ở những cá nhân có các tình trạng bệnh lý có nguy cơ cao, hãy tham khảo MMWR 2013;62(RR02):1-22

Đối với những đề xuất bổ sung cho những cá nhân này, và các thông tin đầy đủ về việc sử dụng các vắcxin khuẩn cầu não (meningococcal vaccine), bao gồm nguyên tắc hướng dẫn liên quan đến việc tiêm chủng cho những cá nhân có nguy cơ gia tăng bị nhiễm trùng, hãy tham khảo MMWR March 22, 2013;62(RR02):1-22[10 pages].



XEM PHẦN TIẾP THEO









Sunday, January 17, 2016

ỨNG DỤNG DI TRUYỀN HỌC - Do LQT Biên Dịch




Trên 10 triệu người ở Hoa Kỳ bị chứng loãng xương, với tình trạng này xương trở nên dễ gãy (nứt).  Chứng loãng xương có khuynh hướng di truyền trong gia đình, và vấn đề di truyền đóng một vai trò quan trong mật độ khoáng chất xương, một yếu tố nguy cơ chính gây gãy (nứt) xương.  Các nhà khoa học đã xác định được nhiều yếu tố di truyền có liên quan đến mật độ khoáng chất xương.  Nhưng các yếu tố này có khả năng chỉ đại diện cho một phần nhỏ trong sự biến đổi cấu trúc gen tiềm ẩn.  












ỨNG DỤNG DI TRUYỀN HỌC - Do LQT Biên Dịch


CÁC NGUY CƠ VỀ XƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG BIẾN ĐỔI GEN

Các Ý Chính

-      Một nghiên cứu về bộ gen có quy mô lớn đã tiết lộ những đột biến gen mới và đã dẫn dắt các nhà nghiên cứu đến một loại gen ngoài dự đoán, loại gen này ảnh hưởng đến mật độ xương và nguy cơ gãy (nứt) xương.
-      Các kết quả mang đến những sự hiểu biết sâu rộng hơn về cấu trúc gen làm nền tảng cho chứng loãng xương và có thể dẫn đến những phương thức mới nhằm ngăn ngừa tình trạng trạng suy giảm mật độ xương và gãy (nứt) xương.

Trên 10 triệu người ở Hoa Kỳ bị chứng loãng xương, với tình trạng này xương trở nên dễ gãy (nứt).  Chứng loãng xương có khuynh hướng di truyền trong gia đình, và vấn đề di truyền đóng một vai trò quan trọng đối với mật độ khoáng chất xương, một yếu tố nguy cơ chính gây gãy (nứt) xương.  Các nhà khoa học đã xác định được nhiều yếu tố di truyền có liên quan đến mật độ khoáng chất xương.  Nhưng các yếu tố này có khả năng chỉ đại diện cho một phần nhỏ trong sự biến đổi cấu trúc gen tiềm ẩn.


Các nỗ lực trước đây, nhằm liên kết các biến đổi cấu trúc gen với các đặc điểm và các chứng bệnh, đã khám phá phần lớn các biến đổi gen phổ biến với các tác động tương đối nhỏ.  Các nghiên cứu gần đây đã tìm thấy các biến đổi cấu trúc gen không viết mã(non-coding variant) ít phổ biến hơn với các tác động lớn hơn.

Một nhóm nghiên cứu quốc tế dẫn đầu bởi tiến sĩ Brent Richards tại trường Đại Học McGill đã tiến hành kiểm tra vai trò của các đột biến gen hiếm đối với mật độ khoáng chất xương và nguy cơ gãy (nứt) xương.  Các nhà khoa học này đã sử dụng các dữ liệu từ Dự Án UK10K (UK10K Project) – một nguồn khổng lồ chứa bộ gen hoàn chỉnh trên cơ sở các chuỗi của cộng đồng dân cư Châu Âu; Dự Án 1000 Bộ Gen được NIH tài trợ, một trong những nỗ lực sớm nhất của thế giới nhằm xác định chuỗi các bộ gen của nhiều người; và các dữ liệu từ một số nghiên cứu khác.

Đầu tiên, nhóm nghiên cứu này đã tiến hành xác định chuỗi bộ gen hoàn chỉnh của hơn 2800 người từ Dự Án UK10K.  Họ cũng đã xác định chuỗi các khu vực viết mã protein (exome) của trên 3500 người.  Trong một phân tích chi tiết, các nhà khoa học đã so sánh các dữ liệu này với các dữ liệu của các nghiên cứu trước bao gồm hàng chục ngàn người khác.  Sau đó, họ đã phân tích các mối liên kết giữa các biến đổi cấu trúc gen và các số đo mật độ khoáng chất xương được tiến hành ở trên 53 000 người.  Cuối cùng, họ đã xem xét các dữ liệu của hơn 508 000 người để xác định mối liên hệ giữa các biến đổi cấu trúc gen và các trường hợp gãy (nứt) xương thực sự.  Các kết quả đã được đăng trên tạp chí Nature trên mạng số ra ngày 14 tháng 9 năm 2015.

Nhóm nghiên cứu này đã xác định các đột biến ở một khu vực gần với gen EN1 (engrail homeobox-1), gen này được xem có liên quan đến mật độ khoáng chất xương ở khu vực cột sống thắt lưng.  Một biến đổi cấu trúc gen cũng được xem có liên quan đến mật độ khoáng chất xương ở đầu xương đùi (“cổ” xương đùi).  Cả hai khu vực này là những vị trí gãy (nứt) xương do loãng xương phổ biến.  Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng, các biến đổi cấu trúc gen này có sức tác động lớn hơn so với những đột biến gen được báo cáo trước đây liên quan đến mật độ xương.

Sử dụng một mẫu chuột, nhóm này đã biến đổi các mức gen En1 và đã xác nhận rằng nó đóng một vai trò quan trọng trong chức năng sinh lý xương.  Mất đi gen En1 sẽ dẫn đến tình trạng giảm mật độ xương, có lẽ do quá trình luân chuyển xương(bone turnover) tăng cao.

“Gen EN1 trước đây chưa bao giờ được xem có liên quan đến chứng loãng xương ở người, vì thế kết quả này mở ra một lộ trình hoàn toàn mới để theo đuổi việc phát triển các loại thuốc nhằm ngăn chặn căn bệnh này”, tiến sĩ Richards nói.

Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy một vài biến đổi cấu trúc gen khác có liên quan đến mật độ khoáng chất xương ở những khu vực cụ thể, bao gồm 3 khu vực ở cẳng tay, 14 ở cổ xương đùi (femoral neck), và 19 ở cột sống thắt lưng (lumbar spine).  Các khám phá này chỉ ra rằng nghiên cứu xác định chuỗi toàn diện và mang tính đa dạng hơn có thể dẫn đến sự khám phá các đột biến gen hiếm mà chúng ảnh hưởng đến các chứng bệnh thông thường.

“Các kết quả chúng tôi tìm thấy giúp gia tăng sự hiểu biết về cấu trúc gen làm nền tảng cho sự phát sinh của chứng loãng xương.  Một sự biến đổi cấu trúc gen ở một khu vực của bộ gen, mà khu vực này không viết mã cho một protein, có thể có sự tác động khá lớn đến một gen có chức năng kiểm soát sức khỏe xương”, theo lời của tiến sĩ Douglas Kiel, tại Trung Tâm Hebrew SeniorLife và Đại Học Y Khoa Harvard.  “Một ngày nào đó việc nghiên cứu bộ gen sẽ dẫn đến nhiều phương pháp điều trị can thiệp cho từng cá nhân, mà trong trường hợp này, sẽ giảm được tình trạng mất mật độ xương và ngăn ngừa những trường hợp gãy (nứt) xương ở những người cao tuổi”.



NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT VÀ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA BỘ GEN CHUỘT VÀ NGƯỜI

Những so sánh về các chức năng hoạt động bên trong của hai bộ gen có thể dẫn đến việc ứng dụng các mẫu chuột tốt hơn.


Nhìn lại quá trình tiến hóa và toàn cảnh về bộ gen của người và chuột, một nhóm các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những đầu mối quan trọng về lý do tại sao một số quá trình và hệ thống trong cơ thể chuột – chẳng hạn như hệ miễn dịch, quá trình chuyển hóa và đáp ứng stress (stress response) – có những khác biệt lớn đối với các quá trình và hệ thống đó ở người.  Xây dựng trên nhiều năm nghiên cứu về chuột và tiến trình kiểm soát gen, họ đã phát triển một phương thức mà có thể giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về mức độ khác biệt và tương đồng giữa chuột và người được viết mã trong bộ gen của mỗi loài.

Các phát hiện của các nhà nghiên cứu – được trung tâm dữ liệu mouse ENCODE Consortium báo cáo trên mạng ngày 19 tháng 11 năm 2014 trong 4 bài báo trên tạp chí Nature và trong một vài ấn bản khác – kiểm tra các chương trình gen và sinh hóa liên quan đến việc kiểm soát bộ gen chuột và người.  Các nhà khoa học đã tìm thấy rằng, nhìn chung, các hệ thống được sử dụng để kiểm soát hoạt động của gen có nhiều điểm tương đồng ở chuột và người, và đã được bảo tồn, hoặc tiếp tục theo quá trình tiến hóa.

Các kết quả này có thể giúp thấu hiểu về quá trình kiểm soát gen và các hệ thống cần thiết cho các tiến trình sinh học của những động vật có vú.  Các kết quả này cũng cung cấp những thông tin mới giúp xác định khi nào chuột là một mẫu sinh vật thích hợp để nghiên cứu sinh học và bệnh ở người, và có thể giúp giải thích một số giới hạn của nó.

Các kết quả nghiên cứu mới nhất là từ dự án mouse ENCODE (mouse ENCODE project), một phần của chương trình ENCyclopedia Of DNA Elements, được bảo trợ bởi Viện Nghiên Cứu Bộ Gen Người Quốc Gia Hoa Kỳ (National Human Genome Research Institute - NHGRI), một nhánh của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health – NIH).  Chương trình ENCODE đang xây dựng một danh mục tổng hợp về các yếu tố chức năng trong các bộ gen người và chuột.  Các yếu tố này bao gồm các gen cung cấp những hướng dẫn để xây dựng protein, các gen viết mã không protein (non-protein-coding gen), cũng như các yếu tố kiểm soát sự “tắt” và “bật” của các gen, và thời điểm “bật, tắt”.

“Lâu nay chuột vẫn được xem là mẫu động vật nghiên cứu sinh học chính”, theo lời của tiến sĩ Eric Green, giám đốc viện NHGRI.  “Các kết quả này cung cấp dồi dào những thông tin về cách thức bộ gen chuột hoạt động, và một nền tảng nhờ đó các nhà khoa học có thể xây dựng để hiểu thêm về các tiến trình sinh học ở chuột và người.  Bộ sưu tập các dữ liệu mouse ENCODE là một nguồn thông tin hết sức có lợi cho cộng đồng các nhà nghiên cứu”.

“Đây là nghiên cứu so sánh hệ thống đầu tiên giữa chuột và người ở mức bộ gen”, theo lời của tiến sĩ Bing Ren, đồng tác giả trong nghiên cứu của tạp chí Nature và là giáo sư ngành y học tế bào và phân tử tại trường Đại Học California tại San Diego (University of California at San Diego).  “Chúng tôi đều biết rằng chuột hầu như là một mẫu động vật thích hợp để thay thế cho con người.  Chúng tôi đã tìm thấy rằng nhiều quá trình và lộ trình được bảo tồn từ chuột đến người.  Điều này cho phép chúng tôi nghiên cứu các chứng bệnh ở người bằng cách nghiên cứu các lĩnh vực sinh học ở chuột mà các lĩnh vực này phản ánh các tiến trình sinh học ở người”.

Trong nhiều trường hợp, các nhà điều tra đã tìm thấy rằng một số khác biệt về chuỗi ADN (DNA) gắn liền với các chứng bệnh ở người xem ra có các bản sao ở bộ gen chuột.  Họ cũng chứng minh rằng một số gen và yếu tố có đặc điểm giống nhau ở hai loài, cung cấp cơ sở để sử dụng chuột cho việc nghiên cứu bệnh có liên quan ở người.  Tuy nhiên, các nhà điều tra cũng khám phá ra nhiều đột biến ADN (DNA) và các kiểu thể hiện gen không giống nhau ở hai loài, hạn chế đáng khể việc sử dụng chuột như một mẫu nghiên cứu bệnh.  Chuột và người có chung khoảng 70% các chuỗi gen viết mã protein, khoảng 1,5% các bộ gen này.

Ví dụ, các nhà điều tra đã tìm thấy rằng đối với hệ miễn dịch ở chuột, các quá trình chuyển hóa và đáp ứng stress, thì hoạt động của một số gen thay đổi khác nhau ở người và chuột, giống với nghiên cứu trước đây.  Sau đó, các nhà nghiên cứu đã xác định được các gen và những yếu tố khác có khả năng liên quan đến việc kiểm soát các gen này ở chuột, một vài gen trong số này không có bản sao ở người.  “Chúng tôi nhìn vào bộ gen ở chuột như một cuốn sách với một số đoạn được thêm vào và một số đoạn bị cắt bỏ bởi quá trình tiến hóa.  Đó có thể là kết quả về khả năng thích ứng của chuột và người đối với môi trường sống của mỗi loài”, theo lời của bác sĩ Ren, một thành viên của Viện Ludwig Nghiên Cứu Ung Thư (Ludwig Institute for Cancer Research), ở San Diego.

“Nhìn chung, cơ cấu và các mạng lưới kiểm soát gen đều được bảo tồn ở chuột và người, nhưng về chi tiết thì hơi khác nhau”, theo lời của tiến sĩ Michael Snyder, tác giả và là giám đốc Trung Tâm Stanford Nghiên Cứu Bộ Gen và Y Học Cá Nhân (Stanford Center for Genomics and Personalized Medicine), Đại Học Stanford, California.  “Bằng cách hiểu được những khác biệt này, chúng tôi có thể hiểu được cách thức và thời điểm mẫu chuột được sử dụng một cách hiệu quả nhất”.

Trong các bài viết ở tạp chí Nature, các nhà nghiên cứu đã so sánh quá trình tổng hợp gen, quá trình bổ sung chất nhiễm sắc (chromatin modification) và các tiến trình khác có vai trò kiểm soát hoạt động của gen ở một loạt các mô và các loại tế bào ở chuột và người.  Tổng hợp gen là quá trình mà các chỉ dẫn của gen được đọc.  Chất nhiễm sắc là quá trình đóng gói protein giúp điều khiển chức năng của bộ gen bằng cách kiểm soát sự truy nhập vào ADN (DNA); các thay đổi trong quá trình đóng gói này có thể ảnh hưởng đến sự điều khiển gen.

Mặc dù cả hai loài đều có một nhóm chính bao gồm các chương trình tương tự có vai trò điều khiển hoạt động của gen, nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng những khác biệt xuất hiện trong các mô và các loại tế bào cụ thể. 

“Trước khi tìm được các kết quả này, chúng tôi không biết rằng có một số lượng lớn các gen với khả năng thể hiện ở những mức độ khác nhau một cách hệ thống giữa chuột và người”, theo lời tiến sĩ Ross Hardison, giám đốc Viện Nghiên Cứu Bộ Gen So Sánh và Phân Tích Hệ Thống Sinh Học (Institute for Comparative Genomics and Bioinformatics) tại trường Đại Học Tiểu Bang Pennsylvania (Pennsylvania State University), và là tác giả trong nghiên cứu chính của tạp chí Nature và các ấn bản khác.  “Bây giờ chúng tôi đã biết được các gen nào có các kiểu thể hiện được bảo tồn giữa chuột và người.  Đối với các quá trình sinh học sử dụng các gen này, chuột là một mẫu nghiên cứu thích hợp cho các lĩnh vực sinh học ở người.  Tiến sĩ Hardison lưu ý rằng điều ngược lại cũng đúng: các nhà nghiên cứu cần xem xét những khác biệt mang tính hệ thống trong các kiểu thể hiện gen giữa hai loài khi xem chuột như một mẫu nghiên cứu cho người.

Hai nghiên cứu đi kèm minh họa thêm những khác biệt giữa chuột và người.  Đồng tác giả nghiên cứu của tạp chí Nature, bác sĩ John Stamatoyannopoulos, phó giáo sư y khoa và ngành khoa học bộ gen tại trường Đại Học Washington (University of Washington), ở Seattle, và các đồng nghiệp đã so sánh trên 1,3 triệu vị trí bộ gen có tên là các khu vực tăng mẫn cảm DNase 1 (nhận diện DNA kiểm soát) ở 45 loại mô và tế bào ở chuột với người.  Họ đã báo cáo trong tạp chí Khoa Học (Science) rằng chuột và người có chung khoảng 35% các yếu tố này và hoạt tính ở các loại tế bào khác nhau.  “Chúng tôi đã nhìn vào các chuỗi kiểm soát chung và đã tìm thấy các bộ gen ở chuột và người có cùng ngôn ngữ trong tiến trình kiểm soát gen, nhưng cũng tìm thấy rằng có sự thích ứng rất lớn trong quá trình tiến hóa.  Ví dụ, một thành phần hoạt tính ở gan chuột có thể được biến đổi để trở nên hoạt tính ở não của người”, ông nói.  “Hình thức biến đổi công dụng này tiêu biểu cho một sự thay đổi hết sức dễ dàng mà tự nhiên có thể sử dụng để kiểm soát gen”.

Trong một nghiên cứu trên tạp chí Các Tiến Trình của Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ (Proceedings of the National Academy of Sciences), tiến sĩ Snyder và các đồng nghiệp của ông đã so sánh quá trình thể hiện gen (gene expression: quá trình nhờ đó các thông tin từ một gen được sử dụng để tổng hợp sản phẩm chức năng của gen) trong 15 loại mô khác nhau ở chuột và người.  Trái ngược với chứng cứ trước đây, họ đã tìm thấy rằng một số khía cạnh của quá trình đọc gen (gene readout) có các kết quả giống nhau giữa những mô khác nhau trong cùng một loài hơn là giữa những mô giống nhau ở cả hai loài.



TIẾT LỘ NHIỀU BÍ MẬT VỀ DA

Tiến sĩ Julie Segre của Viện Nghiên Cứu Bộ Gen Người Quốc Gia Hoa Kỳ (National Human Genome Research Institute - NHGRI), bị thu hút bởi cách thức cơ thể con người đáp ứng lại thế giới xung quanh, do đó bà đã tập trung vào nghiên cứu cơ quan lớn nhất của cơ thể: hệ thống da (skin).

“Da là một hệ thống chính tương tác và thích ứng với môi trường bên ngoài”, theo lời tiến sĩ Segre.  “Nó chính là giao diện (interface) giữa các chức năng sinh lý phức tạp của chúng ta và một môi trường thường mang tính không thân thiện, môi trường này vắt cạn chúng ta và bắt chúng ta tiếp xúc với các chất hóa học cũng như các tác nhân gây bệnh.  Bạn không muốn chất tẩy rửa nhà bếp đi vào trong máu của bạn, chính vì thế da là phương cách mà cơ thể bạn ngăn cản các chất tẩy rửa này xâm nhập”.

Mặc dù nghiên cứu của tiến sĩ Segre chỉ tập trung vào một cơ quan, nhưng điều bà khám phá sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin hơn về mỗi tổ chức mô tiếp xúc với thế giới bên ngoài, bao gồm bề mặt của mắt, đường ruột, các màng nhầy ở mũi và phổi.  Nghiên cứu của tiến sĩ Segre còn có thể giúp tạo ra các phương pháp điều trị cho những tình trạng bệnh lý đa dạng như bệnh vẩy nến (psoriasis), bệnh suyễn và tình trạng mất nước ở các trẻ em sinh thiếu tháng (premature baby).

Bệnh vẩy nến và chàm bội nhiễm (eczema) là những chứng rối loạn chủ yếu trong các nghiên cứu của tiến sĩ Segre.  Cả hai chứng bệnh này đầu tiên xuất hiện ở da, nhưng có thể ảnh hưởng đến một vài khu vực khác của cơ thể.

“Đây là các rối loạn phức tạp, đa hệ thống”, theo lời giải thích của tiến sĩ Segre, nhà điều tra trong Chi Nhánh Di Truyền Học và Sinh Học Phân Tử của Phân Khoa Nghiên Cứu Nội Bộ của Viện Nghiên Cứu Bộ Gen Người Quốc Gia Hoa Kỳ (Genetics and Molecular Biology Branch of NHGRI's Division of Intramural Research).  “Nếu chúng ta có thể hiểu được điều gì xảy ra với da, thì chúng ta có thể có được những manh mối về các nguyên nhân tiềm ẩn cũng như cách thức các vấn đề này gây khó khăn cho chúng ta”.

Mặc dù các rối loạn về da ảnh hưởng chủ yếu đến chất lượng cuộc sống, nhưng nếu không được chữa trị, chúng có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng.  Các trẻ em bị chàm bội nhiễm (eczema) thường phát triển bệnh suyễn.  Như vậy có phải vì các chất gây dị ứng (allergen) đi qua vết rách ở da sẽ đi vào phổi hay là vì một quá trình viêm kéo theo một quá trình khác?  Chúng ta vẫn chưa biết được điều đó, nhưng chúng ta hy vọng rằng nếu biết cách quản lý bệnh chàm bội nhiễm thì sau đó bệnh nhân sẽ không phát triển bệnh suyễn.  Nếu họ đã có bệnh suyễn, chúng ta hy vọng rằng việc điều trị rối loạn ở da sẽ làm cho bệnh suyễn được cải thiện”.

Chàm bội nhiễm bắt đầu khi trẻ em được 6 tháng đến 1 năm với các vết đỏ gây ngứa mà thỉnh thoảng bị hiểu lầm là khô da.  Rối loạn này là một chứng bệnh mãn tính, và các vết đỏ trên da sẽ đến và đi kéo dài suốt đời.  Bệnh vẩy nến thường phát triển ở độ tuổi từ 20 – 30.  Các vết da ánh bạc hình thành ở những chỗ da nhăn và bị rách, chẳng hạn như khuỷu tay và đầu gối.  Vẩy nến cũng là một chứng bệnh mãn tính, tái phát và cần được điều trị suốt đời.  Ở Hoa Kỳ, có khoảng 20 – 30% dân số phát triển bệnh chàm bội nhiễm, và có khoảng 2 – 3% dân số bị bệnh vẩy nến.

Hiện tại, các chuyên gia y tế cho rằng cả hai chứng bệnh này đều do hệ miễn dịch hoạt động quá mức, do đó gây ra một phản ứng dị ứng ở da, nhưng tiến sĩ Segre và các đồng nghiệp của bà nghĩ rằng bệnh vẩy nến và chàm bội nhiễm có thể bắt đầu, thay vì gây ra, với những vết rách ở da.

Sau khi lớp da bảo vệ bị phá vỡ, thường bởi một vết rách hoặc vết trầy xước, các chất gây dị ứng và các tác nhân gây bệnh xâm nhập đồng thời khởi động một quá trình viêm.  Đa số người bình thường sẽ lành vết rách một cách mau chóng, và hệ miễn dịch của họ sẽ lắng xuống.  Tuy nhiên, các tế bào da của những người có khuynh hướng di truyền bị vẩy nến và chàm bội nhiễm sẽ hoạt động quá mức để phản ứng lại những thách thức và bị kẹt lại ở chu kỳ mà ở đó các tế bào da và hệ miễn dịch kích thích lẫn nhau trong một vòng lặp lại liên tục.


Remodeling: Quá trình tái tạo
Normal skin: Da bình thường
Trauma: Chấn thương
Wounded state: Tình trạng bị thương tổn
Proliferation migration: Sự di chuyển của quá trình sinh sôi nảy nở
Re-epithelialized: Được bao bọc trở lại bằng biểu mô
Impaired barrier recovery: Hồi phục lớp bảo vệ bị hủy hoại
Inflammatory state: Trạng thái viêm
Microbes: Các vi sinh vật
Water: Nước
Dendritic cell: Bạch cầu khi có kháng nguyên xuất hiện
Water loss: Mất nước
Fibrin clot: Khối fibrin
Proliferating and migrating keratinocytes: Tế bào biểu bì sản sinh keratin phát triển mạnh và di chuyển
T-lymphocytes: Các tế bào bạch huyết T


Mặc dù cách làm dịu hệ miễn dịch đã là một mối quan tâm chính của đa số phương pháp trị liệu cho những rối loạn này, nhưng phòng thí nghiệm của tiến sĩ Segre đã khám phá ra rằng tiến trình làm lành vết rách ở da cũng quan trọng như sự điều biến của hệ miễn dịch để có được một kết quả khả quan.  Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng việc tái thiết lập lớp bảo vệ da, có lẽ với kem dưỡng da (lotion: dưỡng thể) hoặc băng dán vết thương bằng lipit (lipit bandage), sẽ phá vỡ chu kỳ viêm và cho phép hệ miễn dịch ngưng phản ứng lại.  Điều đó có thể có nghĩa rằng những người bị bệnh vẩy nến và chàm bội nhiễm sẽ cần đến các liều lượng thuốc thấp hơn và được điều trị ít hơn.

Trong một nghiên cứu được đăng trong Tạp Chí Điều Tra Lâm Sàng (Journal of Clinical Investigation), tiến sĩ Serge và các đồng nghiệp của bà gần đây đã tìm ra một yếu tố quan trọng để xác định người nào sẽ phát triển bệnh vẩy nến và chàm bội nhiễm bằng cách nghiên cứu một loại protein có tên là connexin 26 (Cx26).  Cx26 hình thành các kênh trao đổi thông tin, các kênh này cho phép các tế bào xung quanh mép của một vết thương thông báo cho nhau tạo ra thêm nhiều tế bào gần vết thương; các kênh này thông báo cho các tế bào nằm dưới các lớp da không bị tổn thương rằng một tình huống khẩn cấp đang xảy ra và yêu cầu các tế bào này tạo ra thêm nhiều tế bào; và các kênh này thu hút các tế bào miễn dịch đi đến khu vực bị thương tổn để đánh đuổi các sinh vật gây bệnh trong khi vết thương đang lành lại.  Da sản sinh số lượng lớn protein Cx26 khi nó trong tiến trình phát triển trước khi đứa trẻ được sinh ra, đồng thời cũng gia tăng tiến trình sản sinh Cx26 khi các mô bị thương tổn để chúng có thể tái tạo.

Các vấn đề xuất hiện khi cơ thể không “tắt” đi quá trình sản sinh Cx26 sau khi vết thương được lành lại.  Điều này sẽ đặt các tế bào biểu mô vào trạng thái hoạt động quá mức được gọi là sinh sôi nảy nở quá mức (hyperproliferation), do đó gây kích thích hệ miễn dịch.  Tiến sĩ Segre hy vọng rằng việc tìm kiếm các phương cách giúp lớp bảo vệ da lành lại một cách nhanh chóng và hiệu quả ở những người có khuynh hướng di truyền sản sinh quá nhiều protein Cx26 sẽ làm cho quá trình sản sinh Cx26 ngưng hoạt động đúng thời điểm và có thể làm giảm thiểu hoặc loại trừ được các đợt phát bệnh vẩy nến.

Các trẻ sinh thiếu tháng là một nhóm khác mà tiến sĩ Segre và đồng nghiệp của bà hy vọng rằng họ có thể giúp được cho nhóm trẻ em này.  Họ đang nghiên cứu cách thức da phát triển trong bào thai và hình thành lớp bảo vệ độc đáo này, đồng thời hy vọng sự hiểu biết mới mẻ này sẽ cho họ biết cách tăng tốc quá trình đó trong các trẻ sơ sinh, những trẻ được sinh ra trước khi da của chúng có khả năng giữ cho cơ thể không bị vi khuẩn xâm nhập cũng như nước không thấm vào được.

Tiến sĩ Segre nói rằng, “Các trẻ sinh thiếu tháng bị mất chất lỏng ở mức báo động.  Nếu các trẻ này được sinh ra trước 34 tuần, sẽ có nhiều chất lỏng rò rỉ qua lớp da chưa phát triển hoàn chỉnh, do đó các trẻ này cần phải tiêu thụ chất lỏng với số lượng gấp 3 lần so với các trẻ em sinh sau 34 tuần chỉ để giữ cho các hồng cầu, khí oxy, các chất điện phân, và các chất dinh dưỡng tuần hoàn trong cơ thể của chúng.  Chúng tôi muốn thay đổi tình trạng này”.


Cornified envelope: Vỏ bọc chuyển sang dạng keratin có sừng
Keratin macrofibrils: Các sợi keratin lớn
Lipid bilayer: Lớp lipit kép
Tight junctions: Các chỗ nối màng tế bào
Stratum corneum: Lớp sừng bên ngoài của biểu bì
Granular layer: Lớp hạt
Spinous layer: Lớp tế bào gai
Basal layer: Lớp nền
Dermis: Hạ bì



Hiểu được cách thức da phát triển cũng sẽ giúp các nhà nghiên cứu tổng hợp một lớp bảo vệ nhân tạo cho các bệnh nhân bị bỏng (phỏng) nhiệt hoặc hóa chất, da bị thương tổn của các bệnh nhân này sẽ được bao bọc cho đến khi lớp da mới tái tạo.  Tiến sĩ Segre nói rằng, những người bị bỏng (phỏng) nặng có chung các vấn đề với các trẻ sinh thiếu tháng, bao gồm khó duy trì thân nhiệt, mất chất lỏng và nhiễm trùng.  Việc tổng hợp lớp bảo vệ nhân tạo có thể đưa vào ứng dụng ngay có thể là yếu tố quan trọng giúp cho các bệnh nhân bị thương tổn nghiêm trọng sống sót.

“Vazơlin vàng (petroleum jelly) không giống được với da”, theo lời tiến sĩ Segre.  “Khi chúng ta hiểu được cách thức da hoạt động, chúng ta hy vọng rằng con người sẽ có thể thiết kế một lớp bảo vệ nhân tạo mà nó có thể thực hiện tất cả các chức năng của lớp bảo vệ thật cho đến khi da có thể hoàn toàn lành lại”.

“Bạn không thể nhìn vào thế giới hôm nay và hiểu được lý do tại sao cơ thể chúng ta đáp ứng lại môi trường theo cách của cơ thể”, theo nhận xét của tiến sĩ Segre, “bởi vì cơ thể chúng ta vẫn được lập trình cho các điều kiện trước đó.  Thuốc kháng sinh (trụ sinh) chỉ mới được khám phá vào năm 1928, vì thế thậm chí các đáp ứng mãnh liệt để chọc thủng da vẫn được mã hóa trong bộ gen của chúng ta để hiệu chỉnh tình huống gây nguy hiểm đến tính mạng trong quá khứ”.

Tiến sĩ Segre nói rằng tỷ lệ mắc bệnh chàm bội nhiễm(eczema) ở trẻ em ngày càng gia tăng, và có thể là do da của chúng ta được lập trình để cùng tồn tại với bụi bẩn và các động vật ở nông trại, cũng như những bãi cỏ không được sạch sẽ ở ngoại ô.

“Đây được gọi là giả thuyết vệ sinh (hygiene hypothesis)”, bà giải thích, “đây không phải là một câu chuyện được phát triển đầy đủ, nhưng một số chứng rối loạn, bao gồm chàm bội nhiễm, đang trở nên phổ biến hơn khi nhiều người dọn đến những môi trường đô thị đang gia tăng.  Phải mất khoảng hàng ngàn, có thể hàng triệu năm để biến đổi bộ gen của chúng ta từ cột mốc của quá trình tiến hóa.  Xã hội đang tiến hóa nhanh hơn khả năng đáp ứng của bộ gen chúng ta”.


Nguồn(Source):

Sunday, December 27, 2015

CÁC RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH (VESTIBULAR DISORDERS) - Do LQT Biên Dịch


ĐIỀU TRỊ

Điều trị chóng mặt, mất thăng bằng, và choáng váng do rối loạn chức năng tiền đình

Hình thức điều trị được chỉ định cho các rối loạn tiền đình phụ thuộc vào các triệu chứng, bệnh sử và tình trạng sức khỏe chung, kết quả kiểm tra tổng quát do bác sĩ y khoa thực hiện, và các kết quả kiểm tra chẩn đoán.  Bên cạnh việc được điều trị cho bất kỳ chứng bệnh tiềm ẩn nào mà nó có thể góp phần gây rối loạn tiền đình, phương pháp điều trị còn có thể bao gồm:

Trị Liệu Phục Hồi Tiền Đình

Trị liệu phục hồi tiền đình (vestibular rehabilitation therapy – VRT) là một chương trình tập thể dục được thiết kế để gia tăng sự bù trừ của hệ thần kinh trung ương cho các khiếm khuyết ở tai trong.  Trị liệu VRT có thể giúp ích cho nhiều dạng rối loạn tiền đình, bao gồm chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (benign paroxysmal positional vertigo - BPPV) và giảm chức năng tiền đình hai bên (bilateral vestibular hypofunction) hoặc một bên (giảm chức năng tai trong ở một bên hoặc hai bên) liên quan đến bệnh Ménière, viêm mê đạo tai(labyrinthitis), và viêm thần kinh tiền đình (vestibular neuritis).  Ngay cả những cá nhân bị các rối loạn tai trong dài hạn không thuyên giảm và họ đã được điều trị y tế trong một khoảng thời gian nhưng không thành công hoặc thành công không đáng kể cũng có thể có lợi khi được điều trị bằng phương pháp VTR.  Trị liệu này cũng có thể giúp ích cho những người bị mất chức năng tiền đình đột ngột hoặc cấp tính sau khi phẫu thuật cho các vấn đề về tiền đình.

Lý Do Cần Đến Trị Liệu VRT

Khi các cơ quan tiền đình (vestibular organ) bị tổn thương do bệnh tật hoặc do thương tổn, não bộ không còn phụ thuộc vào các cơ quan này để có được những thông tin chính xác về sự thăng bằng và chuyển động, thường dẫn đến choáng váng, chóng mặt, các rối loạn về thăng bằng, và các triệu chứng khác.  Nhiều người có thể tự hồi phục sau vài tuần hoạt động bình thường bởi vì não bộ đã thích ứng với một tiến trình gọi là tiến trình bù trừ tiền đình (vestibular compensation).

Tuy nhiên, nếu tiến trình bù trừ tiền đình không thành công, khả năng duy trì dáng đứng và phối hợp thăng bằng của một người có thể trở nên phụ thuộc một cách thái quá vào những thông tin nhập vào từ mắt, các cơ và các khớp (proprioception).  Ngoài ra, cá nhân này có thể phát triển những kiểu chuyển động đầu và cơ thể hoàn toàn mới để cố gắng tránh choáng váng và buồn nôn.  Ví dụ, một người bị rối loạn tiền đình có thể làm theo một cách lắc hông cường điệu như một phương pháp giữ thăng bằng, xoay toàn bộ cơ thể thay vì chỉ xoay đầu khi nhìn vào một vật gì đó, hoặc luôn luôn nhìn xuống sàn để tránh bị xoắn người.  Điều đáng tiếc là, các chiến lược này có thể càng làm cho tiến trình bù trừ tiền đình khó khăn hơn, các triệu chứng trở xấu và thường gây nhức đầu, căng cơ, và mệt mỏi.

Mục tiêu của trị liệu VRT là huấn luyện lại não bộ để nó có thể nhận biết và xử lý các tín hiệu từ hệ thống tiền đình khi phối hợp với thị giác và khả năng nhận cảm trong cơ thể.  Quá trình này thường bao gồm khả năng khử mẫn cảm hệ thống thăng bằng đối với những chuyển động kích thích tạo ra các triệu chứng.

Nội dung trị liệu VRT

Đầu tiên, chuyên gia trị liệu vật lý (physical therapist – PT) hoặc chuyên gia trị liệu cơ năng (occupational therapist – OT) sẽ tiến hành kiểm tra đánh giá toàn diện, bắt đầu với bệnh sử và bao gồm việc quan sát cũng như xem xét dáng đứng, sự thăng bằng và dáng đi, và các chiến lược bù trừ.  Sự xem xét đánh giá này cũng bao gồm các kiểm tra sự phối hợp giữa đầu và mắt (eye-head coordination test) giúp đánh giá mức độ theo dõi một vật đang di chuyển của hai mắt khi đầu chuyển động hoặc đứng yên.  Các kiểm tra đánh giá khác cũng có thể được sử dụng, chẳng hạn như một bản câu hỏi đo lường tần suất, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, và các thay đổi về lối sống đi kèm.

Sử dụng các kết quả đánh giá, chuyên gia điều trị sẽ phát triển một kế hoạch cho từng cá nhân bao gồm các bài tập cho đầu, cơ thể, và mắt một cách cụ thể, các bài tập này được thực hiện trong các buổi điều trị cũng như được thực hiện tại nhà.  Các bài tập này được thiết kế để huấn luyện lại não bộ để nhận biết và xử lý các tín hiệu từ hệ thống tiền đình, phối hợp chúng với các thông tin từ thị giác và khả năng nhận cảm trong cơ thể.  Quá trình này thường bao gồm khả năng khử mẫn cảm hệ thống tiền đình đối với các chuyển động kích thích tạo ra các triệu chứng, gia tăng các hoạt động và bài tập thể dục tại nhà để tăng cường sức cơ.

Tùy thuộc vào khả năng chẩn đoán và sự hợp tác với bác sĩ, việc điều trị trong phòng khám với chuyên gia điều trị cũng có thể bao gồm một dạng trị liệu VRT đặc biệt được gọi là tiến trình tái điều chỉnh vị trí sỏi tai (canalith repositioning procedure), thường được gọi là Epley maneuver.

Các tác hại và tác dụng của trị liệu VRT

Một số bài tập và các hoạt động thoạt đầu có thể làm tăng các triệu chứng khi cơ thể và não bộ cố gắng phân biệt các kiểu chuyển động mới.  Vì thế, thỉnh thoảng có người ngưng trị liệu VRT, vì cho rằng trị liệu này càng làm cho rối loạn tiền đình của họ trở nên nghiêm trọng hơn.  Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, khả năng duy trì thăng bằng cải thiện theo thời gian nếu các bài tập được thực hiện đúng quy cách và không bỏ cuộc.  Căng cơ, nhức đầu, và mệt mỏi sẽ giảm bớt, các triệu chứng chóng mặt, choáng váng, và buồn nôn sẽ giảm dần hoặc biến mất.  Thông thường, trị liệu VRT tỏ ra rất thành công và không cần đến các phương pháp điều trị khác.

Tiến trình mất bù

Sau khi não đã học cách bù trừ cho tình trạng suy giảm chức năng tiền đình, thì các tình trạng như cảm lạnh hoặc cảm cúm, tiểu phẫu(minor surgery), hoặc thậm chí bất cứ tình trạng nào làm gián đoạn hoạt động bình thường trong vài ngày cũng có thể làm cho não “quên” đi những gì nó đã học, và như thế các triệu chứng lại tái phát.  Tiến trình này gọi là mất bù trừ (decompensation).  Đa số bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng từ tiến trình mất bù bằng cách quay trở lại với chương trình tập tại nhà được chuẩn bị trong buổi trị liệu VRT đầu tiên.  Tuy nhiên, nếu các triệu chứng kéo dài hoặc trở nên nghiêm trọng, thì điều quan trọng là phải được chuyên gia y tế chẩn đoán và điều trị, bởi vì vấn đề này cho thấy rằng chức năng tiền đình lại bị tổn thương thêm.

Trị liệu VRT và phẫu thuật

VRT là một phần quan trọng của phương pháp điều trị khi mà phẫu thuật được yêu cầu để điều trị rối loạn tiền đình.  Chuyên gia trị liệu có thể tiến hành kiểm tra đánh giá chức năng tiền đình tiền phẫu thuật, thăm khám mỗi ngày trong thời gian nằm viện để giúp cho tình trạng tăng tạm thời các triệu chứng mà chúng thường đi kèm với phẫu thuật, và hướng dẫn một loạt các bài tập đơn giản để thực hiện tại nhà sau khi được xuất viện.  Thông thường, các chuyên gia trị liệu sẽ tiến hành điều trị thêm sau khi bệnh nhân đã hồi phục sau phẫu thuật.

Tiến Trình Thay Thế Sỏi Tai (cho trường hợp BPPV)

Điều Trị BPPV

Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (benign paroxysmal positional vertigo – BPPV) xảy ra là do sỏi tai bị dời chỗ, đây là những tinh thể cacbonat canxi nhỏ, các tinh thể này thường bám vào màng sỏi thính giác ở thông nang (utricle) của tai trong(inner ear).  Khi bị chấn thương, nhiễm trùng, hoặc thậm chí lão hóa, sỏi tai có thể tách khỏi thông nang và tập trung bên trong các ống bán nguyệt (semicircular canal).  Những chuyển động ở đầu làm thay đổi vị trí các viên sỏi bị tách ra và kích thích các sợi thần kinh nhạy cảm gửi đi các tín hiệu giả (false signal) đến não, gây ra choáng váng và các triệu chứng khác.  Mục tiêu của tiến trình tái điều chỉnh vị trí sỏi tai, một hình thức trị liệu hồi phục tiền đình, là di chuyển các sỏi tai bị dời chỗ nhằm ngăn chặn các tín hiệu giả này và làm giảm bớt các triệu chứng có thể gây ra.

Bác sĩ John M. Epley đầu tiên mô tả tiến trình CRP vào năm 1992.  Tiến trình gốc và nhiều tiến trình biến thể khác hiện đang được sử dụng thỉnh thoảng được gọi là tiến trình Epley (Epley maneuver hoặc maneuvers).


Thông qua một loạt những thay đổi về vị trí của đầu, tiến trình CRP di chuyển các sỏi tai từ ống tai đến thông tai.  Sau khi đến thông tai, các sỏi tai có thể tái kết bám vào màng sỏi thính giác, hòa tan, và bị phân hủy, hoặc di chuyển đến một nơi nào đó mà chúng không thể gây ra các triệu chứng.

Các tiến trình này bao gồm một loạt các cử động ở đầu và thân được hướng dẫn theo kiểu hình đặc biệt, được tiến hành bởi một chuyên gia y tế, chuyên gia này sẽ quan sát cẩn thận những chuyển động ở mắt với từng sự thay đổi về tư thế.  Trị liệu CRP có thể được tiến hành ở phòng khám bác sĩ đi kèm với việc sử dụng thuốc diazepam để giúp ngăn chặn hiện tượng buồn nôn xảy ra trong suốt quá trình, tiến trình này cần khoảng 15 phút để hoàn tất.  Những hướng dẫn phòng ngừa được đưa ra ngay sau khi thực hiện tiến trình này nhằm đảm bảo rằng sỏi tai không có cơ hội quay trở về vị trí gây bệnh trước đây ở một trong những ống bán nguyệt.

Trị liệu CRP tỏ ra rất hiệu quả, với tỷ lệ chữa khỏi vào khoảng 80%.  Tỷ lệ tái phát tình trạng chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) sau khi tiến hành trị liệu là tương đối thấp.  Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể cần thêm các phương pháp điều trị khác.

Có hai tiến trình chính: CRP (the Epley maneuver) và Semont-Liberatory maneuver.  Việc chọn lựa tiến trình phụ thuộc vào các kết quả của kiểm tra Dix-Hallpike (Dix-Hallpike test: cho biết ống nào có liên quan) và sỏi tai có ở trong ống bán nguyệt (canalithiasis) hay bám vào mỏm hình chén (cupula) của ống bán nguyệt (cupulolithiasis) hay không.

Trị liệu CRP được cho rằng có hiệu quả trong trường hợp sỏi tai xuất hiện trong ống bán nguyệt (canalithiasis) bởi vì nó có thể giúp dịch chuyển các sỏi tai trôi nổi tự do từ khu vực nhạy cảm (ống bán nguyệt) vào một nơi mà nó sẽ không gây chóng mặt.  Trị liệu này có thể được sử dụng để điều trị tình trạng chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) của ống bán nguyệt sau (posterior semicircular canal) hoặc ống bán nguyệt trước (anterior semicircular canal).  Đa số bệnh nhân thực hiện tiến trình này để điều trị tình trạng chóng mặt tư thế kịch phát lành tính ống bán nguyệt sau (posterior canal BPPV).

Các tiến trình này chỉ được thực hiện bởi một chuyên gia y tế đã được đào tạo chuyên nghiệp, chuyên gia này có thể bảo vệ thương tổn có thể xảy ra ở cổ và lưng cũng như xác định xem một số tình trạng sức khỏe (chẳng hạn như lỗ rò ngoại dịch [perilymph fistula], võng mạc bị bong tróc, thiếu máu mạch não [vertebrovascular insufficiency], trào ngược thực quản [esophageal reflux], và các chứng bệnh khác) có thể loại bệnh nhân ra khỏi danh sách ứng viên cho tiến trình này hay không.  Các biến chứng tiềm tàng từ tiến trình này bao gồm khả năng bị tổn thương cổ/lưng hoặc các mảnh vụn sỏi đi vào một ống khác.

Dựa trên lý thuyết sỏi tai mỏm hình chén (cupulolithiasis theory) của tình trạng BPPV, các bài tập Brandt-Daroff được các bác sĩ T Brandt và R.B. Daroff đưa vào thực hành vào năm 1980.  Họ đề xuất một bộ bài tập cho tình trạng BPPV được thực hiện nhiều lần trong một khoảng thời gian kéo dài cho đến 2 ngày sau khi các cơn bùng phát chóng mặt tư thế kết thúc.  Mục đích của các bài tập này là để cho các sỏi tai ở mỏm hình chén trong ống bán nguyệt sau long ra và bị phân tán.  Một số đề xuất rằng các bài tập này còn có thể có hiệu quả thông qua việc làm cho trở thành thói quen, qua đó sự kích thích não được lặp lại làm giảm khả năng đáp ứng của não với sự kích thích đó.

Tiến trình này bao gồm việc ngồi ở cạnh giường, chuyển sang tư thế nằm nghiêng một bên cho đến khi hiện tượng chóng mặt chấm dứt, quay trở lại vị trí ngồi trong một khoảng thời gian cố định, sau đó chuyển sang tư thế nằm nghiêng ở phía bên kia, và cứ lặp lại như thế.  Các bài tập này được lặp lại nhiều lần trong ngày cho đến 2 ngày sau khi hiện tượng chóng mặt chấm dứt.

Đối với trị liệu CRP được mô tả ở trên cho trường hợp sỏi tai hiện diện trong ống bán nguyệt, chuyên gia y tế được đào tạo chuyên biệt sẽ xác định xem các bài tập này có thích hợp cho từng cá nhân không, và giúp đảm bảo rằng các bài tập này phải được thực hiện đúng quy cách và mang lại hiệu quả.

Những Cân Nhắc về Chế Độ Ăn

Chế Độ Ăn Có Thực Sự Quan Trọng Không?

Nhiều người mắc bệnh Ménière (Ménière’s disease), tăng thủy lực nội dịch thứ phát (secondary endolymphatic hydrops), và chứng chóng mặt liên quan đến đau nửa đầu (migraine-associated vertigo – MAV) nhận thấy rằng một số thay đổi về chế độ ăn tỏ ra có lợi cho việc quản lý rối loạn của họ.  Việc tránh tiêu thụ các chất không có tính dinh dưỡng, chẳng hạn như nicotin và một số loại thuốc, cũng có thể giúp giảm bớt các triệu chứng.

Cân Bằng Dịch Tai Trong

Các cấu trúc thính giác và thăng bằng chứa dịch của tai trong thường hoạt động độc lập với hệ thống dịch/huyết của cơ thể.  Chất dịch (được gọi là nội dịch [endolymph]), có vai trò tạo sự ẩm ướt cho các tế bào nhận cảm của tai trong, giúp duy trì thể tích không đổi và chứa nồng độ ổn định các chất như Natri, Kali, Clorua, và các chất điện phân khác.

Khi bị thương tổn hoặc bệnh tật, thể tích và thành phần nội dịch có thể dao động với những thay đổi của dịch/huyết của cơ thể.  Sự dao động này được xem là nguyên nhân gây ra các triệu chứng tăng thủy lực nội dịch (endolymphatic hydrops) hay còn gọi là bệnh Ménière (Ménière’s disease) – áp lực hoặc cảm giác đầy tai, ù tai (tinnitus), mất khả năng nghe, choáng váng, và mất thăng bằng.  Do đó, đối với những người mắc bệnh Ménière (tăng thủy lực nội dịch nguyên phát) hoặc tăng thủy lực nội dịch thứ phát, (mà có thể tiếp tục gây tổn thương tai trong) thì việc duy trì sự ổn định trong hệ thống dịch/huyết của cơ thể là yếu tố hết sức quan trọng.

Các Chiến Lược Ăn Uống

Quản lý chế độ ăn uống để giúp kiểm soát sự cân bằng dịch cơ thể bao gồm việc thay đổi số lượng một số chất được tiêu thụ và giảm bớt những thay đổi bất thường về các số lượng đó.  Các chiến lược này bao gồm:

-      Tránh các chất kích hoạt tình trạng đau nửa đầu bao gồm các loại thực phẩm chứa axit amin tyramine.  Các loại thực phẩm này bao gồm rượu đỏ (red wine: rượu vang), gan gà(chicken liver), thịt hun khói (smoked meat), sữa chua (yogurt), sôcôla, chuối, các loại trái cây họ cam quít (citrus fruit), trái sung (fig), phô mai chín (ví dụ: phô mai cheddar hoặc Brie), và các loại quả hạch (nut).
-      Phân bố thực phẩm và tiêu thụ chất lỏng đều đặn trong ngày và mỗi ngày.
-      Tránh các loại thực phẩm và thức uống có hàm lượng đường và muối cao.  Các loại thực phẩm chứa những loại đường phức (ví dụ, các loại đường được tìm thấy trong những loại rau đậu [legume] và ngũ cốc nguyên hạt [whole grain]) là những chọn lựa thích hợp hơn so với các loại thực phẩm có nồng độ đường đơn (simple sugar, ví dụ đường cát và mật ong) cao.  Tiêu thụ natri (sodium) cũng ảnh hưởng đến dịch cơ thể và quá trình điều tiết.  Bác sĩ của mỗi cá nhân sẽ là người quyết định tốt nhất về mức tiêu thụ natri hợp lý.
-      Uống đủ lượng chất lỏng mỗi ngày.  Nếu có thể, dự đoán số lượng nước mất đi do tập thể dục hoặc do nhiệt gây ra, do đó cần tiêu thụ thêm chất lỏng trước khi và trong lúc tập thể dục cũng như trong điều kiện khí hậu ấm nóng.
-      Tránh các loại thực phẩm và thức uống chứa caffeine.  Caffeine là một chất gây kích thích và có thể làm cho tiếng ù tai lớn hơn.  Các đặc tính lợi tiểu (diuretic) của chất này cũng gây mất nước qua đường tiểu.
-      Hạn chế hoặc loại bỏ việc tiêu thụ rượu bia.  Rượu bia có thể ảnh hưởng trực tiếp và có hại đến tai trong bằng cách thay đổi thể tích và thành phần chất lỏng ở tai trong.

Các Chất Không Có Tính Dinh Dưỡng

Bên cạnh những điều chỉnh về chế độ ăn, hãy chú ý đến những chất khác mà chúng có thể ảnh hưởng không tốt đến tai trong và có thể làm tăng các triệu chứng của rối loạn tiền đình.  Ví dụ:

-      Thuốc trung hòa axit (antacid) có thể chứa một số lượng lớn natri (sodium).
-      Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), chẳng hạn như ibuprofen, có thể giữ lại nước hoặc gây mất cân bằng các chất điện phân.
-      Nicotin (được tìm thấy trong các sản phẩm thuốc lá và một số sản phẩm giúp cai nghiện thuốc lá) có thể làm tăng các triệu chứng, bởi vì nicotin làm giảm nguồn cung cấp máu đến tai trong bằng cách thu hẹp các mạch máu; nicotin còn làm tăng huyết áp ngắn hạn.

Đa số các hướng dẫn này thường được đề xuất cho những người mắc bệnh Ménière, tăng thủy lực nội dịch, hoặc bị đau nửa đầu tiền đình(vestibular migraine).  Bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng có thể kết hợp một số nguyên lý này vào kế hoạch điều trị cho từng cá nhân.

Bài Tập Tại Nhà

Chương trình VRT tại nhà

Trong thời gian trị liệu phục hồi tiền đình (vestibular rehabilitation therapy – VRT), các bài tập tại nhà là một phần quan trọng của điều trị.  Chuyên gia trị liệu vật lý hoặc chuyên gia trị liệu cơ năng sẽ thiết kế chương trình điều trị cho từng cá nhân với các bài tập thích hợp được thực hiện với nhịp độ được chỉ định.

Tăng cường sự thăng bằng và thể chất

Sự thành công của chương trình tái huấn luyện khả năng duy trì thăng bằng tùy thuộc một phần vào tình trạng thể chất tốt.  Các chương trình tập luyện thể chất giúp gia tăng năng lượng và thể chất.  Các nhà trị liệu có thể đề xuất các bài tập aerobic nhẹ hoặc một chương trình đi bộ để cải thiện tình trạng thể chất toàn diện.  Các hoạt động, chẳng hạn như tập dưỡng sinh (Tai Chi) hỗ trợ cho những cải thiện về tình trạng thể chất chung và tăng cường khả năng duy trì thăng bằng.

Hệ thống game Wii cũng đã được các chuyên gia trị liệu vật lý và trị liệu cơ năng sử dụng để hỗ trợ các chương trình tập luyện thăng bằng tại nhà, nhưng bởi vì công nghệ này còn quá mới do đó có rất ít chứng cứ lâm sàng cho thấy tính hiệu quả của nó.

Các bài tập thể dục nào tôi có thể thực hiện khi tôi không thể tiếp cận với trị liệu vật lý?

Mặc dù VEDA không đề xuất thực hiện các bài tập tiền đình ở nhà nếu không được chẩn đoán và không có một kế hoạch điều trị cá nhân từ các chuyên gia điều trị tiền đình, nhưng nếu bác sĩ của bạn cho bạn biết rằng hiện tượng chóng mặt của bạn có liên quan đến rối loạn tiền đình và các bài tập có thể thích hợp cho bạn, thì hãy tự hỏi vấn đề gì làm cho bạn bị choáng váng.  Tình trạng chóng mặt của bạn có liên quan đến một cử động đầu cụ thể nào không?  Có thể khi bạn quay đầu hai bên để nhìn thì bạn cảm thấy choáng váng.

Sau khi đã xác định được các chuyển động của cơ thể gây choáng váng, bạn có thể bắt đầu một chương trình tập luyện để lặp lại những chuyển động đó nhằm giúp bạn đạt được khả năng bù trừ tiền đình (vestibular compensation).  Điều quan trọng là lặp lại các cử động này 5 lần trong mỗi buổi tập và thực hiện 2 buổi tập mỗi ngày.  Nếu bạn thấy có một vài cử động khác nhau làm cho bạn bị choáng váng, hãy chọn 2 cử động để tập cùng lúc.  Một khi bạn không còn cảm thấy bị choáng váng khi làm các cử động này, thì tập thêm 2 cử động nữa.  Đừng cố gắng tập từ 3 cử động trở lên cùng lúc.

Nếu bạn gặp phải bất kỳ triệu chứng nào sau đây, thì hãy ngưng các bài tập và điện thoại cho bác sĩ:

-      Thay đổi đột ngột hoặc bất thường về thính giác
-      Cảm thấy áp lực hoặc cảm giác bị nghẽn tai đến mức khó chịu hoặc bị đau nhức (nhiều người cảm thấy áp lực tai tăng nhẹ nhưng không bị đau nhức)
-      Bắt đầu bị ù 2 tai hoặc mức độ ù tai thay đổi đột ngột
-      Chảy nước ở tai
-      Đau nhức và khó chịu ở cổ và lưng liên quan đến việc thực hiện các bài tập.

Nếu bạn bị choáng váng và không có gì làm cho bạn khá hơn hoặc trở xấu hơn, thì sẽ rất khó tìm được một chương trình tập cụ thể để giúp cho các triệu chứng của bạn.  Nếu được bác sĩ chấp thuận, hãy thử chương trình tập luyện thể chất và tăng cường khả năng duy trì thăng bằng ở mức độ nhẹ.  Bạn càng vận động nhiều, thì các triệu chứng của bạn càng được cải thiện.