Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

Friday, June 8, 2012

NHIỄM TRÙNG TAI - CẤP TÍNH (EAR INFECTION - ACUTE) - Do LQT Biên Dịch


PHẪU THUẬT

Thủ Thuật Chèn Ống Thông Tai (với Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ)

Thủ thuật chèn ống thông tai (tympanostomy) bao gồm phương pháp chèn ống thông để đưa chất dịch trong tai giữa ra ngoài.  Tiến trình này bao gồm:

-      Sử dụng thuốc gây mê (ở trạng thái ngủ, không có cảm giác đau).  Trẻ em thường thức giấc hoàn toàn trong vòng vài giờ.
-      Thủ thuật rạch màng nhĩ (myringotomy - đưa chất dịch ra ngoài) được thực hiện trước tiên.
-      Sau khi thực hiện thủ thuật rạch màng nhĩ, bác sĩ sẽ chèn vào một ống thông để đưa chất dịch ra khỏi tai giữa một cách liên tục.


Ear canal: Ống thính (ống tai)
Tympanic membrane: Màng nhĩ
Middle ear space: Khoảng không trong tai giữa
The eardrum (tympanic membrane) separates the ear canal from the middle ear: Màng nhĩ ngăn cách ống tai và tai giữa.




Ear infection with fluid behind tympanic membrane: Nhiễm trùng tai với chất dịch nằm phía sau màng nhĩ

 











Tiến trình chèn ống thông tai được đề xuất thực hiện cho:

-      tình trạng chất dịch nằm trong tai giữa (hiện diện hơn 12 tuần)
-      tình trạng nhiễm trùng tai tái phát cho dù các cố gắng ngăn ngừa (hơn ba lần nhiễm trùng trong 6 tháng)
-      tình trạng nhiễm trùng tai không cải thiện sau 2 đến 3 lần trị liệu kháng sinh hợp lý

Các triệu chứng bao gồm:

-      đau tai kéo dài
-      chảy nước ở tai
-      mất khả năng nghe (trong vòng 3 tháng)


A small incision is made in the tympanic membrane: Một vết rạch nhỏ ở màng nhĩ
Tube inserted to drain fluid: Ống thông tai được chèn vào để đưa chất dịch ra ngoài

 









Trong lúc bạn đang ngủ mê và không có cảm giác đau (sử dụng gây mê toàn phần), bác sĩ sẽ thực hiện một vết rạch nhỏ ở màng nhĩ, và chất dịch tích tụ trong đó được hút ra ngoài.  Một ống thông nhỏ được đưa qua vết rạch ở màng nhĩ để rút chất dịch trong tai giữa ra, và do đó ngăn ngừa tình trạng chất dịch tái tích tụ.  Tiến trình này kéo dài chưa đến 30 phút, tình trạng gây mê chỉ là tạm thời và rất an toàn.  Vết rạch sẽ lành lại mà không thấy vết khâu và lỗ rạch sẽ tự khép lại.  Ống thông tai sẽ tự động rớt ra ngoài sau một vài tháng.




Before: Trước
After: Sau

 











Tiến trình đưa ống thông vào tai giúp hạ giảm cơn đau và hồi phục khả năng nghe tức thời.  Các bệnh nhân thường được về nhà ngay trong ngày phẫu thuật.  Đa số những người thực hiện tiến trình này rất hài lòng với các kết quả.  Tính thường xuyên và mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm trùng tai giữa được giảm bớt đáng kể.  Nếu tình trạng nhiễm trùng tai tiếp diễn sau khi ống thông rớt ra, thì có thể phải lập lại tiến trình này.

Các Hiệu Ứng Hậu Phẫu Thuật.  Thủ thuật chèn ống thông tai là một tiến trình đơn giản, và đứa trẻ hầu như không cần phải ở lại bệnh viện qua đêm.  Thuốc Acetaminophen (Tylenol) hoặc ibuprofen (Advil) đủ hiệu quả để điều trị cơn đau nhức hậu phẫu thuật ở đa số trẻ em.  Tuy nhiên, một số trẻ em có thể cần đến thuốc codeine hoặc các loại thuốc giảm đau mạnh khác.

Thông thường, các ống thông tai sẽ ở lại trong màng nhĩ trong vòng ít nhất vài tháng trước khi tự rớt ra ngoài.  Trong một số trường hợp hiếm, bệnh nhân cần phải được giải phẫu để lấy ống ra.

Các Biến Chứng.  Chứng chảy mũ tai (Otorrhea) là một biến chứng phổ biến nhất sau khi phẫu thuật và có thể kéo dài ở một số trẻ em.  Tình trạng này thường được điều trị bằng thuốc kháng sinh nhỏ lỗ tai.

Các biến chứng phức tạp hơn do phẫu thuật thường ít phổ biến, nhưng cũng có thể bao gồm:

-      Các nguy cơ về gây mê.  Hiếm khi các phản ứng dị ứng hoặc các biến chứng khác, chẳng hạn như vọp bẻ hoặc nghẽn cổ họng, xảy ra.  Nguy cơ này đạt mức cao nhất ở các trẻ em có các chứng bệnh khác, phổ biến nhất là nhiễm trùng đường hô hấp trên, bệnh phổi, hoặc là chứng rối loạn trào ngược thực quản (gastroesophageal reflux disorder - GERD).  Các nguy cơ có liên quan đến gây mê hầu như luôn luôn rất dễ điều trị.
-      Ống thông tai bị tắc nghẽn.  Thỉnh thoảng các ống thông bị tắc nghẽn do các chất dịch kết dính tiết ra hoặc do máu đóng cục sau khi phẫu thuật.
-      Tình trạng thủng màng nhĩ vĩnh viễn.  Trường hợp này xảy ra khi màng nhĩ không lành lại sau khi các ống thông rớt ra.  Đây là một biến chứng nghiêm trọng được biết đến nhiều nhất, nhưng rất hiếm khi xảy ra.
-      Sẹo cũng có thể xuất hiện, đặc biệt là ở các trẻ em cần từ 2 lần phẫu thuật trở lên, nhưng vết sẹo không ảnh hưởng đến khả năng nghe.
-      Tế bào sừng keratin chứa các nang có tên cholesteatomas phát triển xung quanh khu vực ống thông trong khoảng 1% số bệnh nhân.

Tỉ lệ Thành Công.  Khả năng nghe hầu như luôn luôn được phục hồi sau khi thực hiện thủ thuật chèn ống thông tai.  Tình trạng khả năng nghe không được khôi phục như bình thường hoặc gần với mức bình thường là do các căn bệnh gây biến chứng, chẳng hạn như các vấn đề về tai trước đây hoặc chứng viêm tai giữa tràn dịch kéo dài ở các trẻ em đã từng thực hiện nhiều thủ thuật chèn ống thông tai.  Chất dịch tích tụ thường xuyên là lý do chính gây ra tình trạng khả năng nghe liên tục bị suy giảm.  Chỉ có một số ít các trường hợp bị mất khả năng nghe được quy cho các biến chứng do phẫu thuật.

Sử Dụng Nút Bịt Lỗ Tai Để Phòng Ngừa.  Nhiều bác sĩ cảm thấy rằng các trẻ em nên sử dụng nút bịt lỗ tai khi bơi lội (mặc dù đang mang ống thông trong tai) để ngăn ngừa bị nhiễm trùng.  Các bác sĩ khác cho rằng khi nào các trẻ em không nhảy chúi xuống nước hoặc không lặn dưới nước, thì không cần thiết phải sử dụng các nút bịt lỗ tai.  Các phụ huynh nên trao đổi với bác sĩ của các cháu bé về vấn đề này.  Bông gòn tẩm thạch dầu cũng có thể thay thế nút bịt tai rất hiệu quả.  Các trẻ em không cần thiết phải sử dụng nút bịt lỗ tai khi tắm gội.

Theo Dõi.  Ống thông tai sẽ rơi ra khi lỗ màng nhĩ đóng lại.  Điều này có thể xảy ra sau một vài tháng hoặc trên một năm sau đó.  Hoàn toàn không bị đau.  Thật vậy, bệnh nhân và các phụ huynh có thể không để ý ống thông tai bị rơi ra.

Khoảng 20 – 50% số trẻ em có thể bị tái phát bệnh viêm tai giữa tràn dịch và cần thêm phẫu thuật cắt bỏ xương chũm và rạch màng nhĩ.  Tiến trình tái chèn ống thông tai có thể được khuyến khích cho các trẻ em dưới 4 tuổi.

Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ 

Thủ thuật rạch màng nhĩ (myringotomy) được sử dụng để đưa chất dịch ra ngoài và cũng có thể được sử dụng (kết hợp hoặc không kết hợp với thủ thuật chèn ống thông tai) kết hợp với thủ thuật cắt bỏ xương chũm như một tiến trình tái phẫu thuật nếu thủ thuật chèn ống thông tai ban đầu không thành công.  Thủ thuật này sẽ không hiệu quả nếu được thực hiện riêng (không kết hợp với các thủ thuật khác).  Thủ thuật rạch màng nhĩ bao gồm các bước sau đây:  

-      Bác sĩ giải phẫu sẽ rạch một vết nhỏ trong màng nhĩ.
-      Chất dịch được hút ra bằng một dụng cụ có chức năng giống như máy hút bụi.
-      Chất dịch thường được xét nghiệm để xác định các vi khuẩn cụ thể.
-      Màng nhĩ sẽ lành lại trong vòng một tuần.

Thủ Thuật Cắt Bỏ Xương Chũm 

Các xương chũm là tập hợp các mô lymphô có dạng bọt ở phía sau cổ họng, tương tự như amiđan.  Thủ thuật cắt bỏ xương chũm thường chỉ được đề xuất cho chứng viêm tai giữa tràn dịch nếu có một chứng bệnh tồn tại chẳng hạn như 
chứng viêm xoang (sinusitis) mãn tính, tắc nghẽn mũi, hoặc viêm xương chũm (adenoiditis) mãn tính.  Thủ thuật cắt bỏ xương chũm (adenoidectomy) không được khuyến khích để điều trị cho chứng bệnh viêm tai giữa tràn dịch trừ khi có các chứng bệnh này tồn tại.

Thủ thuật cắt bỏ xương chũm kết hợp với thủ thuật loại bỏ chất dịch có thể được thực hiện nếu thủ thuật chèn ống thông tai ban đầu không thành công trong việc hạ giảm chứng viêm tai giữa tràn dịch.  Sự kết hợp hai tiến trình này rất thích hợp cho các trẻ em từ 4 tuổi trở lên.  Phương pháp chèn ống thông tai được đề xuất cho các trẻ em dưới 4 tuổi.  Các trẻ em dưới 4 tuổi không cần thiết phải thực hiện thủ thuật cắt bỏ xương chũm cùng với thủ thuật chèn ống thông tai.


Các xương chũm là các tổ chức mô cư trú ở phía trên cao thành phía sau của yết hầu (họng). Các xương này được cấu tạo bởi mô lympho, mà các mô lympho này giữ lại và tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh hòa lẫn trong không khí đi vào mũi hầu.









Thủ Thuật Rạch Màng Nhĩ Được Trợ Giúp Bằng Tia Laze

Thủ thuật rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng laze được xem là một phương pháp thay thế cho thủ thuật chèn ống thông tai và rạch màng nhĩ truyền thống.  Hiện tại, chưa có đủ chứng cứ để cho rằng thủ thuật này có hiệu quả tương tự như thủ thuật chèn ống thông (đây là một tiến trình tiêu chuẩn).  Một số thực nghiệm lâm sàn đã cho thấy rằng, tỉ lệ thành công của thủ thuật rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng tia laze chỉ bằng một nửa tỉ lệ thành công của phương pháp chèn ống thông tai/rạch màng nhĩ tiêu chuẩn.  Nhiều công ty bảo hiểm cho rằng phương pháp rạch màng nhĩ được trợ giúp bằng tia laze là một tiến trình còn đang thử nghiệm, do đó các công ty này không chấp nhận thanh toán chi phí khi bệnh nhân thực hiện thủ thuật này.










Saturday, June 2, 2012

BỆNH GÚT - BỆNH THỐNG PHONG (GOUT) - Do LQT Biên Dịch



Bệnh gút (bệnh thống phong) là một dạng viêm khớp, xảy ra khi axit uric tích tụ ở các khớp.



Cách sử dụng phần mục lục: Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng anh, xin bấm vào dòng chữ tiếng Anh.  Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng Việt, xin bấm vào dòng chữ tiếng Việt.


Lưu ý: Các kiến thức y học dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo, không nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, chẩn đoán, hoặc điều trị cho các trường hợp bệnh.  Các trường hợp bệnh nên được chẩn đoán và điều trị bởi bác sĩ y khoa có giấy phép hành nghề.  Hãy gọi cho số điện thoại khẩn cấp ở địa phương (chẳng hạn như 911) cho tất cả các trường hợp cấp cứu y tế.


I.             BACKGROUND

II.           SYMTOMS

III.          CAUSES AND RISK FACTORS

IV.         TRIGGERS

V.          DIAGNOSIS

VI.         TREATMENT: ACUTE GOUT ATTACK


VIII.     LIFESTYLE CHANGES

IX.         COMPLICATIONS

X.          REFERENCES

XI.         SOURCES


NHIỄM TRÙNG TAI - CẤP TÍNH (EAR INFECTION - ACUTE) - Do LQT Biên Dịch


CÁC BIẾN CHỨNG

Bệnh gút nếu được điều trị hợp lý thì sẽ hiếm khi tạo ra các nguy cơ sức khỏe lâu dài, mặc dù nó có thể là một nguyên nhân gây đau nhức ngắn hạn và mất năng lực hoạt động (tàn phế) cho hàng ngàn người Hoa Kỳ.

Tình Trạng Đau Nhức và Mất Khả Năng Hoạt Động

Bệnh gút nếu không được điều trị có thể phát triển thành một chứng rối  loạn gây đau nhức và mất năng lực hoạt động (tàn phế) mãn tính.  Bệnh gút kéo dài có thể phá hủy sụn và xương, gây ra tình trạng khớp biến dạng không thể hồi phục và mất khả năng cử động.  Các kết quả thăm dò được đưa ra vào năm 2006 cho thấy 2 phần 3 số người bị bệnh gút cho rằng cơn đau do các cơn bệnh tấn công (đợt phát) nằm trong số trầm trọng nhất mà họ đã từng gặp phải.  Khoảng 75% số những người được thăm dò nói rằng các cơn bùng phát đã làm cho việc đi lại rất khó khăn, và khoảng 70% báo cáo gặp khó khăn trong việc mang giày hoặc chơi thể thao.

Sỏi phấn (tophi) là các khối tinh thể axit uric giống như phấn dưới dạng sạn cứng, tích tụ ở mô xung quanh khớp.  Nếu bệnh gút không được chữa trị, sỏi phấn có thể gia tăng kích cỡ bằng trái banh đánh gôn và có thể hủy hoại xương và sụn ở các khớp, tương tự với quá trình bệnh viêm thấp khớp (viêm khớp dạng thấp).  Nếu chúng cư trú ở cột sống, sỏi phấn có thể gây tổn thương nghiêm trọng bao gồm nén cột sống, mặc dù tình trạng này rất hiếm.  Trong các trường hợp nghiêm trọng, sự hủy hoại khớp sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng hoạt động (tàn phế) hoàn toàn.

Các Chứng Bệnh Về Thận

Sỏi Thận.  Sỏi thận xảy ra trong 10 – 40% các bệnh nhân bị gút, và có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau khi phát triển tình trạng tăng axit uric huyết.  Mặc dù các loại sỏi này thường được cấu tạo bởi axit uric, nhưng chúng cũng có thể được pha trộn với các chất khác.


Kidney stones in the minor and major calyces of the kidney: Các viên sỏi thận trong các đài thận chính và phụ

Kidney stone in the ureter: Sỏi thận trong niệu quản

Sỏi thận xuất hiện khi nước tiểu trở nên quá đậm đặc, và các hợp chất trong nước tiểu kết tinh thành các viên sỏi.  Các triệu chứng xuất hiện khi các viên sỏi bắt đầu di chuyển xuống niệu quản và gây đau dữ dội.  Sỏi thận có thể hình thành trong bể thận và đài thận hoặc trong niệu quản (ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang).

Bệnh Thận.  Khoảng 25% số bệnh nhân bị tình trạng tăng axit uric huyết mãn tính sẽ phát triển thành bệnh thận nghiêm trọng, mà thỉnh thoảng sẽ biến thành tình trạng suy thận.  Tuy nhiên, nên lưu ý rằng nhiều chuyên gia tin rằng chứng tăng axit uric huyết mãn tính không có nhiều khả năng gây ra bệnh thận.  Trong đa số các trường hợp, bệnh thận xuất hiện trước và tạo nên nồng độ cao axit uric.

Bệnh Gút và Bệnh Tim

Bệnh gút có tỉ lệ cao ở những người bị cao huyết áp, bệnh tim mạch vành, và suy tim.  Thật vậy, chứng tăng axit uric huyết có liên quan đến nguy cơ cao bị tử vong do các chứng bệnh tim gây ra.  Các nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên kết giữa bệnh gút và hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) – là một tập hợp các vấn đề, chẳng hạn như béo phì bụng, cao huyết áp, cao triglyceride, và hàm lượng thấp cholesterol “tốt”.  Hội chứng này làm cho bệnh nhân gia tăng nguy cơ bị bệnh tim và bệnh tiểu đường (đái tháo đường).

Theo một số nghiên cứu, chứng tăng axit uric huyết có thể liên quan đến bệnh tim, nhưng không có đủ dữ liệu để xác nhận mối liên kết này.


Blockage in right coronary artery: Tình trạng tắc nghẽn ở động mạch vành phải

Xơ vữa động mạch là một rối loạn phổ biến của các động mạch.  Chất béo, cholesterol, và các chất khác tích lũy ở các thành động mạch.  Các tình trạng tích tụ nhiều hơn được gọi là vữa động mạch (atheroma) hay mảng vữa (plague) và có thể hủy hoại thành động mạch đồng thời làm tắc nghẽn lưu thông máu.  Sự lưu thông máu bị tắc nghẽn nghiêm trọng trong cơ tim sẽ dẫn đến các triệu chứng như đau ngực.

Các Chứng Bệnh Khác Liên Quan Đến Bệnh Gút

Sau đây là một số tình trạng có liên quan đến bệnh gút mãn tính:

-      Bệnh đục thủy tinh thể (bệnh cườm mắt)
-      Hội chứng khô mắt
-      Các biến chứng ở phổi (trong các trường hợp hiếm, các tinh thể axit uric xuất hiện trong phổi)