Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

Saturday, April 14, 2012

CÁC VẤN ĐỀ CẦM MÁU VÀ NGHẼN MẠCH (HEMOSTASIS AND THROMBOSIS ISSUES) - Do LQT Biên Dịch

Click here to load this Caspio Cloud Database

Đăng ngày: Thứ tư, 14 tháng 3 năm 2012
Tác giả: Dược sĩ Charles H. Brown, MSPharm, RPh, CACP (Chuyên gia kháng đông được chứng nhận)

Trị liệu bằng thuốc statin được báo cáo là có tác dụng chống máu kết khối trong mạch máu

Mặc dù phương pháp trị liệu bằng thuốc statin đa số được chỉ định để hạ thấp mức cholesterol, nhưng bên cạnh đó statin còn có các lợi ích khác, bao gồm kháng viêm và chống máu kết khối trong mạch máu.  Những người có mức cholesterol tăng cao thì có nhiều nguy cơ hình thành xơ vữa trong các động mạch.  Trong một số trường hợp, mảng vữa bên trong các mạch máu có thể bị xé rách, do đó kích hoạt sự hình thành của một huyết khối.  Các huyết khối tuần hoàn trong cơ thể có thể một phần hoặc hoàn toàn cắt đứt nguồn cung cấp máu quan trọng đến tim hoặc não.  Nếu không có đủ nguồn cung cấp máu, thì tim và mô não sẽ bị hủy hoại nhanh chóng.

Một nghiên cứu lâm sàn mới đây báo cáo rằng trị liệu bằng thuốc statin (simvastatin) giúp giảm bớt sự kích hoạt của một quá trình máu kết khối nào đó (tissue factor) mà nó độc lập với tác dụng hạ giảm hàm lượng lipit.  Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng các thuốc statin chỉ nhắm vào quá trình máu đóng khối “xấu” và có khả năng bị kích hoạt, nhưng không nhắm vào các quá trình “tốt” được sử dụng trong sự đông máu bình thường, do đó không liên quan đến nguy cơ xuất huyết gia tăng mà đây là một tác dụng phụ điển hình của các loại thuốc kháng đông đang được bán trên thị trường.

Nguy Cơ Về Tim Gia Tăng Được Tìm Thấy Ở Các Bệnh Nhân Sử Dụng Thuốc Dabigatran

Các dữ liệu được thu thập lại từ 7 nghiên cứu trước đây, bao gồm 30514 bệnh nhân, so sánh thuốc dabigatran với warfarin, enoxaparin, hoặc giả dược (placebo).  Tỉ lệ nhồi máu cơ tim hoặc đau thắt ngực tăng lên 33% ở những người sử dụng thuốc dabigatran.  Tuy nhiên, nói chung nguy cơ này vẫn rất thấp; chỉ có 237 trên 20000, hoặc 1,19% số người sử dụng thuốc dabigatran gặp phải các tình trạng liên quan đến tim, so sánh với 0,79% số người sử dụng thuốc khác hoặc giả dược.

Vào thời điểm này người ta vẫn chưa biết được (các) cơ chế chính xác.  Mặc dù đã có báo cáo về nguy cơ gia tăng này, nhưng cơ quan FDA cho rằng nguy cơ này không có con số thống kê đáng kể.  Các nhà nghiên cứu cho thấy rằng các bác sĩ có thể sẽ thận trọng khi chỉ định sử dụng thuốc dabigatran cho đến khi có thêm nghiên cứu được thực hiện để làm rõ nguy cơ nhồi máu cơ tim tiềm ẩn, đặc biệt đối với các bệnh nhân được xác định bị bệnh thiếu máu cơ tim (ischemic heart disease).

Xuất Huyết Do Phản Ứng Thuốc Cao Hơn Khi Sử Dụng Dabigatran So Với Warfarin

Các mối lo ngại về xuất huyết khi sử dụng dabigatran tiếp tục với một bản báo cáo mới về các phản ứng thuốc gây hại (adverse drug reactions – ADRs) bao gồm tình trạng xuất huyết được báo cáo cho cơ quan FDA xảy ra nhiều hơn khi sử dụng dabigatran so với warfarin trong 3 tháng đầu năm 2011.  Phần lớn các tình trạng xuất huyết khi sử dụng dabigatran bao gồm xuất huyết trong sọ não (intracranial hemorrhage) ở các bệnh nhân cao tuổi (tuổi trung bình là 80).

Các dữ liệu mới nhất cho thấy 505 báo cáo về tình trạng xuất huyết khi sử dụng thuốc dabigatran trong 3 tháng đầu năm 2011, mà báo cáo QuarterWatch nói rằng “nhiều hơn bất cứ loại thuốc nào được theo dõi, bao gồm warfarin (đứng thứ hai), với 176 trường hợp bị xuất huyết”.  Mặc dù cần có thêm nghiên cứu, nhưng có thể rằng một liều lượng “dành cho mọi người” 150 mg mỗi ngày 2 lần có thể không phù hợp cho một số bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân cao tuổi và các bệnh nhân có số lượng creatinine được thận lọc ra khỏi máu rất thấp.

Trị Liệu Bằng Thuốc Aspirin Hiệu Quả Tương Tự Với Thuốc Warfarin Đối Với Tình Trạng Suy Tim

Các bệnh nhân bị suy tim có nguy cơ gia tăng bị tử vong và đột quỵ do các trường hợp máu kết khối trong mạch máu gây ra, và thường được chỉ định sử dụng thuốc warfarin hoặc aspirin.  Thử Nghiệm So Sánh Warfarin và Aspirin trong Quá Trình Máu Rời Khỏi Tim Mỗi Khi Co Bóp Bị Hạ Giảm (Warfarin vs Aspirin in Reduced Cardiac Ejection Fraction - WARCEF), một thử nghiệm ngẫu nhiên, che mắt hai đối tượng, đã so sánh 2305 bệnh nhân sử dụng warfarin (tỉ lệ mục tiêu trung bình quốc tế 2-3,5) hoặc aspirin 325 mg mỗi ngày.

Các bệnh nhân từ 176 khu vực ở 11 quốc gia được ghi tên và được theo dõi.  Số năm theo dõi tổng cộng của các bệnh nhân trong nhóm sử dụng warfarin là 4045 và 4033 trong nhóm sử dụng aspirin.  Tuổi trung bình của bệnh nhân là 61; 80% là nam giới.  Quá trình theo dõi trung bình là 3,5 năm, với phạm vi từ 1 đến 6 năm.  Các nhà nghiên cứu kết luận rằng nói chung không có sự khác biệt về các kết quả kết hợp ban đầu về tử vong, đột quỵ do thiếu máu nghẽn mạch (ischemic stroke), hoặc xuất huyết trong sọ não (intracranial hemorrhage) giữa các nhóm điều trị.


Nguồn (Source):







Thursday, April 12, 2012

DẦU CÁ (FISH OIL)


SAFETY

The U.S. Food and Drug Administration does not strictly regulate herbs and supplements. There is no guarantee of strength, purity or safety of products, and effects may vary. You should always read product labels. If you have a medical condition, or are taking other drugs, herbs, or supplements, you should speak with a qualified healthcare provider before starting a new therapy. Consult a healthcare provider immediately if you experience side effects.

Allergies

People with allergy or hypersensitivity to fish should avoid fish oil or omega-3 fatty acid products derived from fish. Skin rash has been reported rarely. People with allergy or hypersensitivity to nuts should avoid alpha linolenic acid or omega-3 fatty acid products that are derived from the types of nuts to which they react.

Pregnancy and Breastfeeding

Potentially harmful contaminants such as dioxins, methylmercury, and polychlorinated biphenyls (PCBs) are found in some species of fish, and may be harmful in pregnant/nursing women. Methylmercury accumulates in fish meat more than in fish oil, and fish oil supplements appear to contain almost no mercury. Therefore, these safety concerns apply to eating fish but likely not to ingesting fish oil supplements. However, unrefined fish oil preparations may contain pesticides.

It is not known if omega-3 fatty acid supplementation of women during pregnancy or breastfeeding is beneficial to infants. It has been suggested that high intake of omega-3 fatty acids during pregnancy, particularly DHA, may increase birth weight and gestational length (254). However, higher doses may not be advisable due to the potential risk of bleeding. Fatty acids are added to some infant formulas.

Fish oil is LIKELY SAFE for most people, including pregnant and breast-feeding women, when taken in low doses (3 grams or less per day).

Fish oil can cause side effects including belching, bad breath, heartburn, nausea, loose stools, rash, and nosebleeds. Taking fish oil supplements with meals or freezing them can often decrease these side effects.

Taking high doses of fish oil is POSSIBLY UNSAFE. Taking more than 3 grams per day might keep blood from clotting and can increase the chance of bleeding.

High doses of fish oil might also reduce the immune system’s activity, reducing the body’s ability to fight infection. This is a special concern for people taking medications to reduce their immune system’s activity (organ transplant patients, for example) and the elderly.

Taking fish oil supplements in larger amounts can increase levels of the “bad” LDL cholesterol in some people. You will need blood tests periodically to ensure LDL cholesterols do not become too high.

Some fish meats (especially shark, king mackerel, and farm-raised salmon) can be contaminated with mercury and other industrial and environmental chemicals, but fish oil supplements typically do not contain these contaminants.

Special precautions & warnings:

The U.S. Food and Drug Administration classifies intake of up to 3 grams per day of omega-3 fatty acids from fish as GRAS (Generally Regarded as Safe). Caution may be warranted, however, in diabetic patients due to potential (albeit unlikely) increases in blood sugar levels, patients at risk of bleeding, or in those with high levels of low-density lipoprotein (LDL). Fish meat may contain methylmercury and caution is warranted in young children and pregnant/breastfeeding women.

Omega-3 fatty acids may increase the risk of bleeding, although there is little evidence of significant bleeding risk at lower doses. Very large intakes of fish oil/omega-3 fatty acids ("Eskimo" amounts) may increase the risk of hemorrhagic (bleeding) stroke. High doses have also been associated with nosebleed and blood in the urine. Fish oils appear to decrease platelet aggregation and prolong bleeding time, increase fibrinolysis (breaking down of blood clots), and may reduce von Willebrand factor.


Gastrointestinal upset is common with the use of fish oil supplements. Diarrhea may also occur, with potentially severe diarrhea at very high doses. There are also reports of increased burping, acid reflux/heartburn/indigestion, abdominal bloating, and abdominal pain. Fishy aftertaste is a common effect. Gastrointestinal side effects can be minimized if fish oils are taken with meals and if doses are started low and gradually increased.

Multiple human trials report small reductions in blood pressure with intake of omega-3 fatty acids. Reductions of 2-5 mmHg have been observed, and effects appear to be dose-responsive (higher doses have greater effects). DHA may have greater effects than EPA. Caution is warranted in patients with low blood pressure or in those taking blood-pressure lowering medications.

Although slight increases in fasting blood glucose levels have been noted in patients with type 2 ("adult onset") diabetes, the available scientific evidence suggests that there are no significant long-term effects of fish oil in patients with diabetes, including no changes in hemoglobin A1C levels. Limited reports in the 1980s of increased insulin needs in diabetic patients taking long-term fish oils may be related to other dietary changes or weight gain.

Fish oil taken for many months may cause a deficiency of vitamin E, and therefore vitamin E is added to many commercial fish oil products. As a result, regular use of vitamin E-enriched products may lead to elevated levels of this fat-soluble vitamin. Fish liver oil contains the fat-soluble vitamins A and D, and therefore fish liver oil products (such as cod liver oil) may increase the risk of vitamin A or D toxicity.

Increases (worsening) in low-density lipoprotein levels ("bad cholesterol") by 5-10% are observed with intake of omega-3 fatty acids. Effects are dose-dependent.

Mild elevations in liver function tests (alanine aminotransferase) have been reported rarely.

Skin rashes have been reported rarely.


There are rare reports of mania in patients with bipolar disorder or major depression. Restlessness and formication (the sensation of ants crawling on the skin) have also been reported. 

Liver disease: Fish oil might increase the risk of bleeding.

Fish or seafood allergy: Some people who are allergic to seafood such as fish might also be allergic to fish oil supplements. There is no reliable information showing how likely people with seafood allergy are to have an allergic reaction to fish oil; however, until more is known advise patients allergic to seafood to avoid or use fish oil supplements cautiously.

Bipolar disorder: Taking fish oil might increase some of the symptoms of this condition.

Depression: Taking fish oil might increase some of the symptoms of this condition.

Diabetes: There is some concern that taking high doses of fish oil might make the control of blood sugar more difficult.

High blood pressure: Fish oil can lower blood pressure and might cause blood pressure to drop too low in people who are being treated with blood pressure-lowering medications.

HIV/AIDS and other conditions in which the immune system response is lowered: Higher doses of fish oil can lower the body’s immune system response. This could be a problem for people whose immune system is already weak.

An implanted defibrillator (a surgically placed device to prevent irregular heartbeat): Some, but not all, research suggests that fish oil might increase the risk of irregular heartbeat in patients with an implanted defibrillator. Stay on the safe side by avoiding fish oil supplements.

Familial adenomatous polyposis: There is some concern that fish oil might further increase the risk of getting cancer in people with this condition.







DẦU CÁ (FISH OIL) - Do LQT Biên Dịch


TÍNH AN TOÀN

Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (The U.S. Food and Drug Administration – FDA) không kiểm soát nghiêm ngặt các loại dược thảo và thực phẩm chức năng.  Không có sự đảm bảo về độ mạnh, sự tinh khiết và tính an toàn của các sản phẩm, và tính hiệu quả có thể thay đổi tùy theo sản phẩm.  Bạn phải luôn nhớ đọc kỹ các nhãn sản phẩm.  Nếu bạn đang mang một chứng bệnh trong người, hoặc đang sử dụng các loại thuốc, dược thảo, hoặc các loại thực phẩm chức năng khác, thì bạn nên tham khảo với bác sĩ (dược sĩ, y tá) trước khi bắt đầu một phương pháp trị liệu mới.  Hãy liên lạc ngay với bác sĩ (dược sĩ, y tá) nếu bạn bị các tác dụng phụ.

Dị ứng

Những người bị dị ứng hoặc nhạy cảm một cách bất thường với cá nên tránh sử dụng dầu cá hoặc các sản phẩm axit béo omega-3 có nguồn gốc từ cá.  Hiếm khi xảy ra tình trạng ngứa ở da (phát ban ở da).  Những người bị dị ứng hoặc nhạy cảm một cách bất thường với các loại quả hạch (nut) nên tránh sử dụng các sản phẩm chứa axit alpha linolenic hoặc axit béo omega-3 có nguồn gốc từ các loại quả hạch mà họ bị dị ứng.

Mang Thai và Cho Con Bú

Các chất ô nhiễm độc hại tiềm tàng như dioxin, methyl thủy ngân, và polychlorinated biphenyls (PCBs) được tìm thấy trong một số loài cá, và có thể có hại cho các phụ nữ mang thai hoặc cho con bú.  Methyl thủy ngân tích tụ ở thịt cá nhiều hơn ở dầu cá, và các loại thực phẩm chức năng dầu cá xem ra hầu như không chứa thủy ngân.  Do đó, các mối quan tâm về tính an toàn này chỉ áp dụng vào việc ăn cá nhưng hầu như không áp dụng vào việc sử dụng các thực phẩm chức năng dầu cá.

Người ta vẫn chưa biết nếu sử dụng thực phẩm chức năng axit béo omega-3 ở các phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú thì có lợi ích gì cho trẻ sơ sinh không.  Tiêu thụ axit béo omega-3 trong lúc mang thai với liều lượng cao, đặc biệt là DHA, có thể làm tăng cân trẻ sơ sinh và kéo dài thời gian mang thai (254).  Tuy nhiên, cũng không nên sử dụng dầu cá với liều lượng cao do nguy cơ bị xuất huyết (chảy máu).  Các axit béo được cho thêm vào các thực phẩm dành cho trẻ sơ sinh.

Dầu cá CÓ THỂ AN TOÀN cho hầu hết mọi người, bao gồm các phụ nữ mang thai và đang cho con bú, khi sử dụng liều lượng thấp (mỗi ngày 3g hoặc ít hơn).

Dầu cá có thể gây ra các tác dụng phụ bao gồm ợ, thở hôi, ợ chua, buồn nôn, phân lỏng, phát ban (ngứa), chảy máu mũi.  Sử dụng các thực phẩm chức năng dầu cá trong bữa ăn hoặc đông lạnh dầu cá thường có thể giảm bớt các tác dụng phụ này.

Sử dụng dầu cá với liều lượng cao có khả năng là không an toàn.  Sử dụng 3g dầu cá mỗi ngày có thể làm cho máu không thể đông tụ và như thế có thể làm gia tăng nguy cơ bị xuất huyết.

Sử dụng liều lượng cao dầu cá cũng có thể làm suy giảm chức năng hoạt động của hệ miễn dịch, làm cho cơ thể giảm bớt khả năng chống lại tình trạng nhiễm trùng.  Đây là một mối quan tâm đặc biệt đối với những người sử dụng thuốc để làm suy giảm chức năng hoạt động của hệ miễn dịch (ví dụ: các bệnh nhân cấy ghép cơ quan) và đối với những người cao tuổi.

Sử dụng các thực phẩm chức năng dầu cá với số lượng lớn có thể gia tăng hàm lượng cholesterol “xấu” LDL ở một số người.  Bạn cần phải xét nghiệm máu thường xuyên để đảm bảo rằng mức cholestol “xấu” LDL không tăng quá cao.

Một số loại thịt cá (đặc biệt là cá mập, cá king mackerel, và cá hồi nuôi) có thể bị nhiễm thủy ngân và các chất hóa học công nghiệp và môi trường khác, nhưng các thực phẩm chức năng dầu cá thường không chứa các chất ô nhiễm này.

Các Biện Pháp Phòng Ngừa và Các Cảnh Báo Đặc Biệt

Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (The U.S. Food and Drug Administration –FDA) đặt tên liều lượng tiêu thụ lên đến 3 g axit béo omega-3 từ cá mỗi ngày là GRAS (Generally Regarded as Safe - Thường Được Đánh Giá Là An Toàn).  Tuy nhiên, các bệnh nhân tiểu đường (đái tháo đường) phải nên cẩn thận vì axit béo omega-3 có thể (mặc dù không có khả năng) sẽ làm gia tăng lượng đường trong máu, cũng như các bệnh nhân có nguy cơ bị xuất huyết, hoặc những người có hàm lượng cao cholesterol “xấu” LDL.  Thịt cá có thể chứa methyl thủy ngân, do đó các trẻ nhỏ và các phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú phải nên cẩn thận.

Các axit béo omega-3 có thể làm gia tăng nguy cơ bị xuất huyết, mặc dù rằng có ít chứng cứ cho thấy nguy cơ xuất huyết nghiêm trọng khi sử dụng liều lượng thấp.  Tiêu thụ số lượng khá lớn cá hoặc các axit béo omega-3 có thể làm gia tăng nguy cơ bị đột quỵ do xuất huyết não (hemorrhagic stroke).  Sử dụng liều lượng cao cũng liên quan đến tình trạng chảy máu mũi (nosebleed) và đi tiểu ra máu.  Dầu cá xem ra có thể làm giảm đi khả năng đông tụ của tiểu huyết cầu (platelet) và do đó kéo dài thời gian bị xuất huyết, gia tăng quá trình phân hủy máu đông, và có thể làm giảm bớt số lượng yếu tố von Willebrand (von Willebrand factor: là một loại glycoprotein trong máu, có chức năng cầm máu).

Rối loạn đường tiêu hóa thường phổ biến khi sử dụng các thực phẩm chức năng dầu cá.  Tình trạng tiêu chảy cũng có thể xảy ra, khi sử dụng liều lượng cao có thể bị tiêu chảy nghiêm trọng.  Cũng có các báo cáo về tình trạng ợ hơi, trào ngược axit/ợ chua/khó tiêu, đầy hơi, và đau bụng gia tăng.  Có mùi vị cá trong miệng là một tình trạng thường thấy.  Các tác dụng phụ ở đường tiêu hóa có thể được giảm thiểu nếu tiêu thụ dầu cá kết hợp với thực phẩm (trong bữa ăn) và nếu sử dụng liều lượng thấp từ lúc bắt đầu rồi sau đó tăng dần.

Có nhiều thử nghiệm ở người cho thấy rằng tiêu thụ các axit béo omega-3 có thể phần nào hạ được huyết áp.  Mức hạ giảm huyết áp 2-5 mmHg đã được xác nhận trong các thử nghiệm này, và hiệu quả xem ra tỉ lệ thuận với liều lượng.  Axit béo DHA có thể có hiệu quả cao hơn axit béo EPA.  Các bệnh nhân có huyết áp thấp hoặc những người đang sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp phải nên cẩn thận khi sử dụng dầu cá.

Mặc dù có sự gia tăng nhẹ hàm lượng huyết đường lúc đói ở các bệnh nhân tiểu đường (đái tháo đường) loại 2, nhưng chứng cứ khoa học cho thấy rằng dầu cá không tạo ra các tác dụng dài hạn đáng kể ở các bệnh nhân bệnh tiểu đường, bao gồm hàm lượng hemoglobin A1C không thay đổi.  Có rất ít các báo cáo vào những năm 1980 về nhu cầu insulin gia tăng ở các bệnh nhân bệnh tiểu đường (đái tháo đường) sử dụng dài hạn dầu cá có thể có liên quan đến các thay đổi về chế độ ăn uống hoặc tăng cân.

Sử dụng dầu cá trong nhiều tháng có thể gây ra tình trạng thiếu hụt vitamin E, do đó các nhà sản xuất đã cho thêm vitamin E vào nhiều sản phẩm dầu cá trên thị trường.  Kết quả là, sử dụng thường xuyên các sản phẩm tăng cường vitamin E có thể làm cho hàm lượng vitamin hòa tan chất béo này tăng cao.  Dầu gan cá (fish liver oil) chứa các vitamin hòa tan chất béo như vitamin A và D, do đó các sản phẩm dầu gan cá (chẳng hạn như dầu gan cá tuyết) có thể làm gia tăng nguy cơ ngộ độc vitamin A hoặc D.

Hàm lượng cholesterol “xấu” LDL gia tăng khoảng 5-10% khi tiêu thụ các axit béo omega-3 đã được xác nhận.  Các hiệu quả phụ thuộc vào liều lượng.

Hiếm có các báo cáo về tình trạng tăng nhẹ enzyme alanine aminotransferase trong các kiểm tra chức năng hoạt động của gan.

Hiếm có các báo cáo về tình trạng ngứa da (phát ban ở da).

Hiếm có các báo cáo về tình trạng hưng cảm (mania) ở các bệnh nhân bị rối loạn lưỡng trạng (bipolar disorder) hoặc bị trầm cảm nghiêm trọng.  Cũng có báo cáo về cảm giác bồn chồn và ngứa ran ở da (cảm giác kiến bò trên da).

Bệnh gan: Dầu cá có thể làm gia tăng nguy cơ xuất huyết.

Dị ứng với cá và hải sản: Một số người bị dị ứng với hải sản chẳng hạn như cá cũng có thể bị dị ứng với các thực phẩm chức năng dầu cá.  Chưa có thông tin xác thực nào cho thấy khả năng những người bị dị ứng với hải sản lại có phản ứng dị ứng với dầu cá.  Tuy nhiên, cho đến khi có các thông tin đáng tin cậy, thì các bệnh nhân bị dị ứng với hải sản được khuyên là nên tránh hoặc sử dụng các thực phẩm chức năng dầu cá một cách thận trọng.

Rối loạn lưỡng trạng (bipolar disorder): Sử dụng dầu cá có thể làm gia tăng một số triệu chứng của căn bệnh này.

Chứng trầm cảm: Sử dụng dầu cá có thể làm gia tăng một số triệu chứng của căn bệnh này.

Bệnh tiểu đường (bệnh đái tháo đường): Có một số lo ngại cho rằng sử dụng dầu cá với liều lượng cao có thể làm cho việc kiểm soát lượng đường trong máu trở nên khó khăn hơn.

Cao huyết áp: Dầu cá có thể giúp hạ huyết áp và có thể gây ra tình trạng huyết áp hạ xuống mức rất thấp ở những người đang được điều trị bằng các loại thuốc hạ huyết áp.

Bệnh SIDA (HIV/AIDS) và các chứng bệnh khác trong đó đáp ứng miễn dịch bị suy yếu: Sử dụng liều lượng cao dầu cá có thể làm suy giảm phản ứng miễn dịch.  Điều này có thể gây khó khăn cho những người có hệ miễn dịch đã bị suy yếu.

Máy phục hồi nhịp tim được cấy ghép (An implanted defibrillator): Một số nghiên cứu, nhưng không phải tất cả, cho thấy rằng dầu cá có thể làm gia tăng nguy cơ bị nhịp tim đập không đều ở các bệnh nhân được cấy ghép máy phục hồi nhịp tim.  Để được an toàn, nên tránh các thực phẩm chức năng dầu cá.

Bệnh polip kết tràng di truyền (Familial adenomatous polyposis): Có một số lo ngại cho rằng dầu cá có thể làm gia tăng thêm nguy cơ bị ung thư ở những người bị chứng bệnh này.









Monday, April 9, 2012

TRÍ TUỆ LÀ GÌ? (WHAT IS THE MIND?) - Do LQT Biên Dịch



Theo cách nói thông thường, “trí tuệ” thường ám chỉ đến nền tảng của ý thức con người





Saturday, April 7, 2012

TRÍ TUỆ LÀ GÌ? (WHAT IS THE MIND?) - Do LQT Biên Dịch



Khi tôi ngồi đây tự hỏi sẽ viết gì, nó thực sự là gì mà làm cho tôi tự hỏi?  Các ý nghĩ bắt nguồn từ đâu? Làm thế nào mà khối chất xám 3 pound (1,36 kg) này làm cho bộ não của tôi cảm nhận được các cảm giác và tư tưởng?  Đôi khi có vẻ như thực sự không thể hiểu được rằng nước của các quá trình vật chất lại có thể tạo ra rượu của ý thức.  Thật vậy, nó đúng là một câu hỏi nổi tiếng hóc búa đến nỗi nó có một cái tên…bài toán não-trí tuệ (hoặc thân xác-trí tuệ).  Sự thất bại trong việc đạt được giải pháp đồng thuận cho bài toán não-trí tuệ tiếp tục tồn tại ở trung tâm của tâm lý học và những khó khăn của nó như là một trạng thái tự chủ bị vỡ vụn.  Mục đích của tôi ở đây là giải thích ngắn gọn cách thức thuyết hợp nhất về tâm lý học (unified theory of psychology - UT) giải đáp bài toán trí tuệ-bộ não.




Đầu tiên chúng ta cần phải làm rõ về cái mà đa số người muốn nói đến khi họ sử dụng thuật ngữ trí tuệ (mind).  Họ thực sự muốn ám chỉ điều gì?  Theo cách nói thông thường, “trí tuệ” thường ám chỉ đến nền tảng của ý thức con người, cái “tôi” cảm nhận-lý luận mà có vẻ là một sức mạnh tạo ra khả năng chọn lựa mà vì một lý do nào đó liên quan đến và cũng có vẻ như tách rời khỏi cơ thể.  Ý tưởng về sự sống sau khi chết xem ra rất hợp lý theo trực giác đối với nhiều người bởi vì đời sống tinh thần của chúng ta xem ra khác với thể xác đến mức chúng ta có thể tưởng tượng linh hồn của chúng ta tiếp tục tồn tại sau khi thân xác của chúng ta đã mục rữa.  Điều này tạo ra một thuyết nhị nguyên theo lẽ thường tình mà đó là một yếu tố cần thiết đối với nhiều niềm tin tôn giáo.

Thuyết hợp nhất UT cho thấy một số vấn đề về ngữ nghĩa ám chỉ hệ thống tự ý thức của con người là “trí tuệ”.  Có một lý do tại sao có liên quan đến điều mà Freud “khám phá” cách đây trên một thế kỷ và hiện nay rất quen thuộc với các nhà tâm lý học hiện đại – ý thức chỉ là một phần nhỏ của các chức năng nhận thức.  Do đó, ý thức và trí tuệ không đồng nghĩa.  Vì thế, chúng ta cần hiểu rõ rằng bài toán trí tuệ-cơ thể phải là bài toán Ý Thức-Bộ Não-Cơ Thể hoặc bài toán Ý Thức-Trí Tuệ-Cơ Thể.

Nhận thức được sự khác biệt giữa trí tuệ và ý thức là một trong các điểm mấu chốt để giải đáp các vấn đề này. Như vậy, trí tuệ và ý thức có mối quan hệ như thế nào? Thuyết hợp nhất UT cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể nhờ đến phong trào cải cách nhận thức (cognitive revolution) trong tâm lý học để xác định câu trả lời.  Phong trào cải cách nhận thức là kết quả của sự kết hợp giữa thuyết thông tin, trí tuệ nhân tạo điện toán (artificial intelligence), và điều khiển học (cybernetics).  Nó tạo ra thuyết điện toán (computational theory) của trí tuệ, mà thuyết điện toán này thực sự đưa ra được câu trả lời cho một vấn đề nan giải lớn.  Thuyết điện toán của trí tuệ khẳng định rằng hệ thần kinh là một hệ thống xử lý thông tin.  Nó có tác dụng chuyển dịch các thay đổi trong cơ thể và môi trường thành một thứ ngôn ngữ của các xung điện thần kinh mà chúng tiêu biểu cho mối quan hệ giữa động vật và môi trường.  Thuyết điện toán của trí tuệ là một sự đột phá vĩ đại vì nó cho phép chúng ta, lần đầu tiên, có khái niệm tách rời trí tuệ khỏi não-cơ thể (brain-body).  Bằng cách nào?  Bởi vì bây giờ chúng ta có thể nhận thức được “trí tuệ” là lưu lượng thông tin đi qua hệ thần kinh và lưu lượng thông tin này có thể được tách rời một cách khái niệm khỏi chất liệu (lý sinh) tạo nên hệ thần kinh.  Để biết được làm thế nào chúng ta có thể xác định được sự tách rời thông tin khỏi bản thân hệ thần kinh thực sự, bạn hãy tưởng tượng đến một cuốn sách.  Khối lượng sách, nhiệt độ của nó, và các kích thước vật lý khác có thể được xem tương tự như bộ não.  Sau đó hãy nghĩ đến nội dung của cuốn sách (nghĩa là, câu chuyện hoặc các đề tài được viết trong cuốn sách).  Đối với thuyết điện toán, nội dung cuốn sách tương tự như trí tuệ.  Do đó, trí tuệ là nguồn thông tin được mô tả bằng ví dụ và được xử lý bởi hệ thần kinh.

Mặc dù phong trào cải cách nhận thức là một bước tiến nhảy vọt, nhưng lại xuất hiện các vấn đề.  Điều này một phần là do trí tuệ có thể dễ dàng được tách rời khỏi bộ não trên khái niệm, các nhà nghiên cứu bị thu hút bởi các mô hình bộ xử lý tách rời hoặc giải toán nhân tạo mà chúng ít liên quan đến các yếu tố khác của các hiện tượng trí tuệ, chẳng hạn như trải nghiệm ý thức (conscious experience), văn hóa, hành vi công khai (overt behavior), hoặc bộ não.  Vấn đề ở đây là các mô hình này hoàn toàn tách biệt với hệ thống não trí tuệ (mindbrain system) của con người.  Với cách nhìn vĩ mô và khả năng lĩnh hội đồng thời hợp nhất các quan điểm quan trọng, thuyết hợp nhất UT cho phép chúng ta có được một sự am hiểu sâu sắc điểm cốt lõi của phong trào cải cách nhận thức và đồng thời kết nối nó trở lại với bộ não, sự tiến hóa, khoa học hành động/hành vi của con người, và văn hóa.

Nhưng mối quan hệ giữa quá trình xử lý thông tin thần kinh ngôn ngữ (neuro-linguistic information processing) và ý thức là thế nào?  Ý thức là lưu lượng thông tin “được trải nghiệm”.  Tôi sẽ quay trở lại để giải thích lý do tại sao cụm từ “được trải nghiệm” lại được đặt trong ngoặc kép.  Còn bây giờ, tôi sẽ cho thấy mô hình xử lý kép của nhận thức (một mô hình tự động nhanh, liên hợp, phản xạ, cảm nhận, thể hiện xúc cảm và một mô hình chậm hơn, sử dụng lời nói, sử dụng phân tích) tương đẳng hài hòa với trải nghiệm ý thức của chúng ta.  Chúng ta hãy lưu ý rằng mặc dù sự trải nghiệm ý thức của chúng ta có tính chất đơn nhất, nhưng dễ dàng tạo ra hai mặt đối lập.  Một lĩnh vực thuộc ý thức của chúng ta là sự cảm nhận trực tiếp.  Nhìn thấy màu đỏ, cảm thấy đói, cảm giác sợ hãi.  Các cấu trúc hình thức cảm nhận không bằng lời nói, cảm giác say mê, và xúc cảm được trải nghiệm là các yếu tố thuộc về cảm giác của ý thức mà một số người gọi là đặc tính cần thiết (qualia).  Các cấu trúc này khác với vị trí khác của sự cảm nhận ý thức được tìm thấy ở con người, mà đó là lĩnh vực thứ hai của cảm nhận ý thức.  Đây là công việc của một nhân vật tường thuật phản ánh, cái tôi của con người giải thích cho các hành động của một người bằng lời nói.

Thuyết Đầu Tư Hành Vi (Behavioral Investment Theory) cung cấp cấu trúc khái niệm cho quá trình xử lý thông tin thần kinh và lĩnh vực liên quan đến cảm giác của ý thức.  Thuyết này cho chúng ta biết hệ thần kinh là một hệ thống kiểm soát bằng điện toán có tác dụng hướng dẫn các hành động theo tỉ lệ giá trị đầu tư, chi phí và lợi nhuận.  Niềm vui và đau khổ là giải pháp thiết thực của tự nhiên đối với các nhận thức mang tính hệ thống, động lực, và các tiến trình hành động cùng nhau phát triển sự chỉ đạo hành vi hướng tới hoặc quay lưng lại với các lợi ích và chi phí.  Thuyết Biện Chứng (Justification Hypothesis) cho chúng ta biết rằng quá trình xử lý thông tin về ngôn ngữ được tổ chức theo chức năng trở thành các hệ thống biện chứng.

Sau cùng, nhà vật lý nổi tiếng Richard Feynman đã từng nói: nếu bạn thực sự muốn chứng tỏ rằng bạn hiểu được cách thức hoạt động của một vấn đề nào đó, thì bạn hãy thiết kế nó.  Và bây giờ chúng ta có thể thấy được kiến thức hạn chế của chúng ta về ý thức.  Tôi đã đặt cụm từ “được trải nghiệm” trong ngoặc kép trong phần trên của bài bởi vì không ai biết cách đưa lưu lượng thông tin vào các trạng thái nổi của sự cảm nhận đầu tiên của một người (đó là, cảm giác).  Bài toán kiến tạo ý thức vẫn còn là một vấn đề hết sức bí ẩn.


Nguồn (Source):


Thursday, April 5, 2012

DẦU CÁ (FISH OIL)


HOW DOES IT WORK?

A lot of the benefit of fish oil seems to come from the omega-3 fatty acids that it contains. Interestingly, the body does not produce its own omega-3 fatty acids. Nor can the body make omega-3 fatty acids from omega-6 fatty acids, which are common in the Western diet. A lot of research has been done on EPA and DHA, two types of omega-3 acids that are often included in fish oil supplements.

Omega-3 fatty acids reduce pain and swelling. This may explain why fish oil is likely effective for psoriasis and dry eyes. These fatty acids also prevent the blood from clotting easily. This might make fish oil helpful for some heart conditions.

The cardioprotective mechanisms of omega-3 FAs appear to be based on
the incorporation of EPA and DHA into cell membranes, altering the membrane’s physical characteristics and the activity of membranebound proteins.  EPA undergoes conversion into a wide variety of bioactive
prostaglandins, thromboxanes, leukotrienes, and eicosanoids resolvins. It
also acts as a ligand for several nuclear transcription factors via peroxisome proliferator-activated receptors and their role in lipid metabolism, inflammation, and atherosclerosis via modulation in cell-cholesterol trafficking and inflammatory activity, consequently altering gene expression.  Also, a variety of intracellular messages are triggered.

Recent studies point to the importance of EPA not only in terms of decreasing the formation of atherosclerotic plaque and decreasing embolic stroke, but also in terms of their ability to improve endothelial function, reverse atherosclerotic plaques over time, and increase arterial elasticity.  While the benefit is clearly multifactorial, the relative importance of each of these actions, the manner in which they co-ordinate, and their ability to explain clinical results are being explored. The overall health benefits of omega-3 allow the clinician to provide the patient with a cardiac treatment that has positive health benefits without adverse effects.