Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH SÁN LÁ PHỔI.

(PARAGONIMIASIS).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

CHỨNG BỆNH CHÂN MADURA

(MADURA FOOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

MỘT BỘ PHẬN NGỰC GIẢ BIẾN MẤT TRONG KHI TẬP MÔN THỂ DỤC PILATES.

(DISAPPEARANCE OF A BREAST PROSTHESIS DURING PILATES).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK).

MỘT VIÊN ĐẠN NẰM TRONG ĐẦU.

(A HEAD SHOT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

TÌNH TRẠNG MÙ SAU KHI TIÊM MỠ

(BLINDNESS AFTER FAT INJECTION)

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH GÚT CÓ SỎI.

(TOPHACEOUS GOUT).

Nguồn (Source): www.nejm.org

Photobucket

HÌNH ẢNH MỖI TUẦN (IMAGE OF THE WEEK)

BỆNH PHÌNH TRƯỚNG XƯƠNG KHỚP

(HYPERTROPHIC PULMONARY OSTEOARTHROPATHY) .

Nguồn (Source): www.nejm.org

Friday, May 11, 2012

U XƠ TỬ CUNG (UTERINE FIBROIDS) - Do LQT Biên Dịch


Các u xơ tử cung là những khối u không gây ung thư (lành tính), phát triển trong tử cung (dạ con), tử cung là một cơ quan sinh sản nữ.



Cách sử dụng phần mục lục: Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng anh, xin bấm vào dòng chữ tiếng Anh.  Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng Việt, xin bấm vào dòng chữ tiếng Việt.


Lưu ý: Các kiến thức y học dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo, không nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, chẩn đoán, hoặc điều trị cho các trường hợp bệnh.  Các trường hợp bệnh nên được chẩn đoán và điều trị bởi bác sĩ y khoa có giấy phép hành nghề.  Hãy gọi cho số điện thoại khẩn cấp ở địa phương (chẳng hạn như 911) cho tất cả các trường hợp cấp cứu y tế.


I.             BACKGROUND

II.           RISK FACTORS

III.          POSSIBLE COMPLICATIONS

IV.         SYMPTOMS

V.          DIAGNOSIS

VI.         TREATMENT

VII.       MEDICATIONS


IX.         HYSTERECTOMY

X.          RESOURCES

XI.         REFERENCES

XII.       SOURCES





Sunday, May 6, 2012

CÁC LỢI ÍCH CỦA SỰ KIỀM CHẾ (THE BENEFITS OF RESTRAINT) - Do LQT Biên Dịch



Chỉ cần luyện tập một chút về tính kiềm chế cũng có thể đưa chúng ta lên một nấc thang hoàn toàn mới của sự tự do và thanh nhàn.








CÁC LỢI ÍCH CỦA SỰ KIỀM CHẾ (THE BENEFITS OF RESTRAINT) - Do LQT Biên Dịch

 

Bây giờ chúng ta có khả năng thể hiện bản thân bằng nhiều cách và bằng nhiều phương tiện truyền thông theo phong cách riêng của bản thân.  Kết quả là tiếng ồn ào của các mối quan tâm mang tính cạnh tranh làm cho người ta phải nói to hơn để có thể nghe được, cũng giống như các thực khách trong một nhà hàng đông người khi cường độ âm thanh gia tăng và cuộc trò chuyện bình thường trở nên vô nghĩa.


Ở nơi nào đó giữa những tiếng ồn ào này, sự kiềm chế đã trở thành kẻ xấu.  Khi chúng ta nói to hơn thì chúng ta đã đầu tư nhiều hơn vào các ý kiến của chính mình.  Chúng ta cần có nhiều năng lượng hơn để thu hút được sự tập trung. Và, kết quả là, chúng ta có thể sẽ rất chú ý vào cách nhìn của bản thân, đó là, “Tôi muốn mọi thứ theo ý của tôi, ngay bây giờ”.  Thật ích kỷ khi cho rằng ý kiến của một người sẽ quan trọng hơn ý kiến của những người khác.  Xem ra đó không phải là một từ hợp lý để sử dụng, nhưng bạn hãy suy nghĩ về điều đó.  Đòi hỏi những điều mình mong muốn mà không nghĩ đến hậu quả, cho dù là tiền của, một ly kem, hoặc quan điểm của chúng ta được chiếm ưu thế, nhưng tất cả đều xuất phát từ một điểm, đó là “Tôi muốn thứ tôi cần ngay giây phút này, không cần biết là thế nào!”  Tất cả những cách thể hiện quan điểm ồn ào này của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến với tham vọng.

Xem ra thế giới xung quanh ta đang trên đà khuyến khích tham vọng và gạt bỏ sự kiềm chế.  Chúng ta đã được dạy rằng, đạt được những thứ chúng ta mong muốn sẽ luôn luôn tốt cho chúng ta, và được dạy rằng sự kiềm chế sẽ “kiềm hãm tự do của chúng ta”.  Nhưng nếu chỉ đam mê tham vọng mà quên đi sự kiềm chế thì sẽ làm lệch khả năng xét đoán và phá hoại hạnh phúc của chúng ta, như thế sẽ thực sự hạn chế sự tự do của chúng ta.

Nhưng sự kiềm chế là gì và tại sao nó lại có lợi cho chúng ta?  Sự kiềm chế là một bộ phận cần thiết để cơ thể chúng ta hoạt động.  Cuộc sống chúng ta tồn tại trong sự cân bằng về năng lượng, luôn luôn thay đổi, từng giây từng phút.  Chúng ta sẽ vươn tới điều gì đó đồng thời cũng kiềm chế mong muốn đó, tạo ra sự cân bằng.

Nếu chúng ta cứ mãi cố gắng để đạt được mọi thứ, mãi ăn, mãi làm việc, mãi ngủ, hoặc mãi làm vô số các việc gì đó, thì chúng ta có thể sẽ mất đi chức năng hoạt động.  Để có tất cả, thỉnh thoảng chúng ta nên nghỉ ngơi.



Chúng ta có thể cho rằng sự kiềm chế là một lực lượng yếu đuối ngăn cản dòng chảy của tham vọng, nhưng không cần đến cố gắng, chỉ cần thực hành.  Sự kiềm chế là một phương pháp tự nhiên để chăm lo cho hạnh phúc của chúng ta.  Nó là một quá trình mà cơ thể của chúng ta đã biết rõ.

Sự kiềm chế xuất hiện một cách tự nhiên trong thời gian tạm dừng giữa các hành động.  Giữa lúc chúng ta hít vào và thở ra, có một khoảnh khắc tạm dừng ở đó.  Cơ thể chúng ta biết cách tạm dừng, ngừng lại và chờ đợi trước khi thực hiện một hành động.  Vào thời điểm tạm dừng đó, chúng ta có được không gian để nhận thức và cân nhắc các kết quả của một hành động cụ thể nào đó trước khi chúng ta chọn lựa nó.  Đó là tất cả những gì chúng ta cần đến để kiềm chế, khả năng biết tạm dừng và nhận thức.  Khi chúng ta ngừng lại và để ý, thì chúng ta có được cơ hội để cảm nhận được cái mà giống như khi chúng ta không bị che mắt bởi tham vọng.  Chúng ta chờ đợi.  Chúng ta cân nhắc.  Sau đó, chúng ta tiến hành hành động dựa trên sự nhận thức sâu sắc về những điều có lợi cho chúng ta.  Không cần phải vội vã.  Chỉ cần thư giãn đi vào khoảnh khắc tạm dừng.

Giá trị của sự kiềm chế và cách thức nó hỗ trợ cho hạnh phúc của chúng ta trở nên rất rõ ràng khi chúng ta bị thương hoặc mắc bệnh.  Chúng ta có xu hướng để ý đến sự cân bằng bên trong, thỉnh thoảng trong lần đầu tiên, khi chúng ta quên đi cách thức làm những việc mà chúng ta đã quen thuộc.  Cuộc sống của chúng ta sẽ bị gián đoạn.  Chúng ta sẽ cảm thấy mất kiểm soát.  Quan điểm mang tính thôi thúc “cái tôi trước tiên” bắt đầu thúc đẩy chúng ta.  Chúng ta muốn hành động ngay và muốn đảm bảo rằng chúng ta sẽ lấy lại được những gì chúng ta đã mất.  Nhưng việc xây dựng lại cách khéo léo một cuộc sống mới với cơ thể luôn luôn thay đổi của chúng ta không thể thực hiện được bằng tham vọng.  Điều này chỉ có thể được thực hiện bằng sự kiềm chế, bằng cách trở nên lưu ý nhiều hơn và chọn lựa các quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng hơn.

Nếu điểm xuất phát của chúng ta là từ một sự đòi hỏi, tham vọng, và từ vị trí “cái tôi trước tiên”, thì chúng ta sẽ không thể tạm dừng.  Chúng ta sẽ không cho bản thân một cơ hội để học hiểu điều gì chúng ta cần biết.  Và chúng ta có thể càng làm tổn thương bản thân khi chúng ta tiếp tục đi xa hơn.

Học hiểu cách ngồi thẳng lại sau khi bị chấn thương là một cơ hội để đưa sự nhận thức này vào thực hành.  Ban đầu khi tôi vừa mới hồi phục, tôi phải được cột chặt vào xe lăn của tôi.  Tôi không thể tự ngồi thẳng được và tôi sẽ bị trượt ra khỏi xe lăn tuột xuống nền nhà nếu như tôi cố gắng ngồi mà không được cột chặt lại.  Để học cách tự ngồi thẳng trở lại, tôi thực sự phải tập luyện sự kiềm chế bằng cách cột chặt cơ thể lại.  Tôi cần phải nhớ rằng tôi nên chờ đợi cho đến khi tôi có đủ sức để làm điều mà tôi muốn làm.

Khi tôi học cách đi bộ trở lại, tôi đã luyện tập bước từng bước một thật chậm và thật thận trọng, kiềm hãm lại tất cả những khuynh hướng làm cho tôi phải vội vã.  Tôi đã cố gắng hướng dẫn chân trái cách di chuyển trong sự kết hợp với chân phải của tôi.  Từng bước đòi hỏi một sự tạm dừng khi tôi học lại cách chuyển trọng lượng cơ thể từ bàn chân này sang bàn chân kia trong một nhịp bước.  Mỗi bước đi của chân trái đòi buộc tôi phải đảm bảo rằng tôi thực sự cân bằng được nó.  Chân trái của tôi yếu hơn nhiều so với chân phải.  Chỉ cần một sự chuyển động đột ngột trên chân trái của tôi cũng làm cho nó bị ngã quỵ.  Sự tạm dừng thật sự rất cần thiết.

Đây là những ví dụ chú trọng vào giá trị của sự kiềm chế, được nêu bật bằng câu chuyện đầy kịch tính của một trường hợp bị chấn thương nghiêm trọng.  Nhưng các cơ hội để luyện tập sự kiềm chế xảy ra trong từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Chỉ cần luyện tập một chút về tính kiềm chế cũng có thể đưa chúng ta lên một nấc thang hoàn toàn mới của sự tự do và thanh nhàn.


Nguồn (Sources):





Tuesday, May 1, 2012

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 1 - BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LOẠI 1 (TYPE 1 DIABETES) - Do LQT Biên Dịch



Bệnh tiểu đường (bệnh đái tháo đường) loại 1 là một chứng bệnh mãn tính (suốt đời) mà nó xảy ra khi tuyến tụy không tiết ra đủ chất insulin để kiểm soát hàm lượng đường trong máu một cách hợp lý.



Cách sử dụng phần mục lục: Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng anh, xin bấm vào dòng chữ tiếng Anh.  Nếu quý vị muốn đọc trang tiếng Việt, xin bấm vào dòng chữ tiếng Việt.


Lưu ý: Các kiến thức y học dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo, không nên được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu, chẩn đoán, hoặc điều trị cho các trường hợp bệnh.  Các trường hợp bệnh nên được chẩn đoán và điều trị bởi bác sĩ y khoa có giấy phép hành nghề.  Hãy gọi cho số điện thoại khẩn cấp ở địa phương (chẳng hạn như 911) cho tất cả các trường hợp cấp cứu y tế.


I.             BACKGROUND

II.           CAUSES

III.          RISK FACTORS

IV.         SYMTOMPS

V.          DIAGNOSIS

VI.         LIFESTYLE CHANGES


VIII.     TREATMENT

IX.         HOME MANAGEMENT

X.          COMPLICATIONS

XI.         TRANSPLANTATION PROCEDURES

XII.       REFERENCES

XIII.     SOURCES

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 1 - BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG LOẠI 1 (TYPE 1 DIABETES) - Do LQT Biên Dịch


CÁC TIẾN TRÌNH CẤY GHÉP

Cấy Ghép Tế Bào Đảo

Các tiến bộ quan trọng trong phương pháp cấy ghép tế bào đảo (islet-cell transplantation) đang cho phép nhiều bệnh nhân không cần đến insulin hoặc giảm bớt việc sử dụng insulin.

Các thử nghiệm lâm sàn quan trọng hiện tại đang sử dụng một tiến trình cấy ghép tế bào đảo (còn được gọi là tế bào beta) được gọi là tiến trình Edmonton (Edmonton protocol), mà thường bao gồm các bước sau đây:

-      Ngay sau khi có đầy đủ số lượng tế bào đảo cho việc cấy ghép, thì bệnh nhân được truyền thuốc kháng sinh qua tĩnh mạch và được cho uống vitamin E, B6, và A.
-      Một máy được sử dụng để cách ly các tế bào đảo từ các tuyến tụy được quyên tặng, thông thường từ các tử thi.  Thường cần đến hai hoặc ba tuyến tụy để cung cấp đầy đủ các tế bào đảo để việc sản sinh insulin được hiệu quả.  (Đây là mặt hạn chế chính của tiến trình này).
-      Sau khi các tế bào đảo được cách ly, thì chúng được tiêm trực tiếp vào một tĩnh mạch chính ở gan của bệnh nhân.
-      Các tế bào đảo được đưa đến các mao mạch ở gan, và ở đó chúng sản sinh ra insulin.
-      Các loại thuốc đặc biệt, chẳng hạn như tacrolimus, sirolimus, hoặc rapamycin (Rapamune), được sử dụng để ức chế hệ thống miễn dịch.  (Không giống như các loại thuốc ức chế miễn dịch được sử dụng trong các tiến trình cấy ghép khác, các loại thuốc này không chứa các chất steroid, mà chất này sẽ phá hủy các tế bào đảo).  Các loại thuốc ức chế miễn dịch cần được sử dụng trong suốt cuộc đời của bệnh nhân để cơ thể của bệnh nhân không bài thải các tế bào đảo lạ này.
-      Tiến trình này phải được thực hiện hai hoặc ba lần trong khoảng từ 2 – 3 tháng.  Tiến trình này thường đòi hỏi nhiều người quyên tặng tuyến tụy để có thể hoàn toàn không cần đến trị liệu bằng insulin nữa.  Đây là mặt hạn chế chính của tiến trình này.

Vào năm 2006, tạp chí New England Journal of Medicine đã đăng các kết quả của thử nghiệm đầu tiên tiến trình Edmonton ở nhiều trung tâm y tế.  Các kết quả cho thấy rằng phương pháp điều trị này có thể có lợi cho một số bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 1 nghiêm trọng.  Trong số 36 bệnh nhân thực hiện tiến trình cấy ghép này, có 44% số bệnh nhân này không cần tiêm insulin 1 năm sau lần trị liệu cuối cùng.  Tuy nhiên, hai phần ba số bệnh nhân phụ thuộc insulin này cần phải tiêm insulin lại trong vòng 2 năm.

Tiến trình Edmonton tạo được chức năng hoạt động bán phần của tế bào đảo ở 28% số bệnh nhân, giúp kiểm soát tình trạng mất nhận thức lượng đường bị giảm trong máu, và đây là một biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường.  (Đối với tình trạng mất nhận thức lượng đường bị giảm trong máu, các bệnh nhân không nhận ra được các triệu chứng của tình trạng lượng đường giảm nghiêm trọng trong máu).  Mặc dù các bệnh nhân này vẫn cần đến việc tiêm insulin, nhưng họ đã kiểm soát tốt hơn chứng bệnh tiểu đường của họ.  Các chuyên gia đang tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện tiến trình Edmonton để các lợi ích của phương pháp này có thể duy trì và kéo dài lâu hơn.

Trở ngại chính cho việc cấy ghép tế bào đảo là cần phải có từ hai tuyến tụy được quyên tặng trở lên để cung cấp đầy đủ số tế bào đảo.  Một cách đáng tiếc là không có đủ số tuyến tụy để thực hiện thành công tiến trình này thậm chí chỉ cho 1% số bệnh nhân.  Do đó, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các nguồn thay thế các tế bào đảo.  Ví dụ, ở một trung tâm, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các tế bào đảo của lợn (heo) làm nguồn thay thế ở các trẻ em và đã không sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch.  Một nửa số trẻ em này đã có được các kết quả khả quan đối với phương pháp tiếp cận này.  Một nghiên cứu khác đã báo cáo rằng các bệnh nhân được chọn lựa có thể chỉ cần một người quyên tặng.

Các nghiên cứu khác đang tập trung vào các tế bào cuống rốn, tế bào gốc phôi thai và trưởng thành, cấy ghép tủy xương, và các loại trị liệu tế bào (cellular therapies) khác.  Các nghiên cứu này vẫn còn ở các giai đoạn đầu, nhưng các chuyên gia dự đoán rằng sẽ có những tiến bộ nghiên cứu quan trọng trong các lĩnh vực này trong những năm sắp tới.  Một nghiên cứu sơ bộ nhỏ được đăng vào năm 2007 trong tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã xem xét các tác dụng của phương pháp cấy ghép tế bào gốc phát sinh tế bào máu giảm cường độ tự thân (autologous nonmyeloablative hematopoietic stem cell transplantation - AHST) ở các bệnh nhân vừa được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 1.  Đây là một phương pháp điều trị thử nghiệm cho bệnh tiểu đường loại 1.  Phương pháp này bao gồm việc điều trị bệnh nhân bằng liều lượng cao các loại thuốc để ức chế hệ thống miễn dịch, sau đó chiết xuất các tế bào máu của bệnh nhân, sau đó đưa các tế bào máu này vào lại cơ thể của bệnh nhân.  Trong nghiên cứu này, 14 trong số 15 bệnh nhân thực hiện phương pháp AHST đã có thể ngưng sử dụng việc tiêm insulin.

Cấy Ghép Bộ Phận Cơ Thể

Cấy ghép toàn bộ tuyến tụy và cấy ghép gấp đôi tuyến tụy và thận đang chứng tỏ là có tỉ lệ thành công lâu dài khá khả quan đối với một số bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 1.  Các tiến trình phẫu thuật giúp ngăn ngừa các tổn thương thêm về thận, và các nghiên cứu có tính dài hạn cho thấy rằng các phẫu thuật này thậm chí cuối cùng có thể thay đổi được một số tổn thương đang tồn tại.  Có một số chứng cứ cho thấy rằng bệnh tim và bệnh thoái hóa thần kinh do tiểu đường sẽ được cải thiện sau khi thực hiện cấy ghép tuyến tụy (mặc dù không cải thiện được bệnh võng  mạc).  Tuy nhiên, tiến trình này có các biến chứng nghiêm trọng trong phẫu thuật và hậu phẫu ở các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường.  Một cuộc nghiên cứu kéo dài 10 năm đã báo cáo rằng tỉ lệ sống sót trong vòng 10 năm là 76%, và 2 phần 3 số bệnh nhân này đã khôi phục được chức năng hoạt động của tuyến tụy và thận.  Các loại thuốc ức chế miễn dịch cần được sử dụng suốt đời sau khi thực hiện tiến trình phẫu thuật này.  Các chuyên gia thường đề xuất các phương pháp cấy ghép trong các trường hợp bị suy thận giai đoạn cuối, hoặc khi bệnh tiểu đường gây ra mối đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân thay vì do bản thân phương pháp cấy ghép gây ra.


Heart: Tim
Kidney: Thận
Spleen: Lá lách
Pancreas: Tuyến tụy

Bệnh tiểu đường nếu không được kiểm soát sẽ gây ra các tổn thương đến nhiều mô tế bào trong cơ thể, bao gồm thận.  Tổn thương thận do bệnh tiểu đường gây ra thường bao gồm tình trạng làm tăng độ dày và chai cứng của các cấu trúc bên trong thận.  Việc kiểm soát nghiêm ngặt hàm lượng glucose trong máu có thể làm trì hoãn tiến độ phát triển của bệnh thận đối với bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2.